GS.TS TRẦN VĂN PHÒNG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Bài viết phân tích chỉ ra những luận cứ bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch hòng tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin: Cả chủ nghĩa Mác-Lênin, cả tư tưởng Hồ Chí Minh đều là một học thuyết khoa học và cách mạng; là những học thuyết, tư tưởng nhân văn, giải phóng con người; cả hai đều có sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh lần đầu tiên được Đảng ta trình bày trong Văn kiện Đại hội VII (1991), “là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và cả dân tộc”1. Lần thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta trình bày trong Văn kiện Đại hội IX (2001) như sau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của nhân dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân...

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”2. Lần thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta trình bày trong Văn kiện của Đại hội XI (2011) như sau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”3.

Trong tất cả các lần định nghĩa, Đảng ta đều khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh “là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta”, tại Đại hội IX và XI, Đảng ta thay từ “trong điều kiện cụ thể của nước ta” bằng từ “vào điều kiện cụ thể của nước ta”. Nhưng hiện nay xuất hiện những quan điểm sai trái, thù địch phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “Đặc biệt, những luận điểm cố tình tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó “nâng tầm” một cách giả tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm có tính ngụy biện dễ làm cho một số người ngộ nhận, tin theo”4. Hay những người của Việt Tân “cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin chủ trương đấu tranh giai cấp, còn Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và là “người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản ...” từ đó họ suy diễn đó chính là sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện, họ đi đến kết luận hàm hồ rằng: Lúc này, chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá và vì thế, cần loại bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng”5v.v.. Thực chất của những quan điểm trên là thông qua việc tìm cách đối lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin sẽ tiến tới phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Những quan điểm này là hoàn toàn sai trái, không có căn cứ, bởi lẽ:

Thứ nhất, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đều thống nhất ở chỗ cả hai đều là những học thuyết, tư tưởng khoa học và cách mạng. Tính khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở chỗ cả hai đều phản ánh đúng đắn quy luật khách quan của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Tính cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở chỗ cả hai đều chống lại cái cũ, cái lạc hậu, bảo thủ, bất công,… đấu tranh bảo vệ cái mới, cái tiến bộ, cái phù hợp với quy luật khách quan vận động của thời đại và lịch sử. Trên cơ sở đó, cả chủ nghĩa Mác-Lênin, cả tư tưởng Hồ Chí Minh đều đấu tranh chống lại xã hội bóc lột, áp bức, bất công, nô dịch con người; đều xây dựng một xã hội không còn người bóc lột người, không còn người nô dịch người, mọi người đều có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ốm đau được chữa bệnh, những người già cả, cô đơn được xã hội quan tâm. Tính khoa học và tính cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều có cơ sở là chính C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đã kế thừa những tinh hoa nhất trong lịch sử tư duy của nhân loại, nhất là tư duy triết học của dân tộc Đức, tư duy quản trị xã hội của dân tộc Pháp, tư duy kinh tế của dân tộc Anh, tư duy rõ ràng, khúc triết của dân tộc Nga đặc biệt Hồ Chí Minh còn kế thừa, chắt lọc tinh hoa của tư tưởng tam dân của Tôn Trung Sơn; và tư duy mềm dẻo, linh hoạt, uyển chuyển của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cả chủ nghĩa Mác-Lênin, cả tư tưởng Hồ Chí Minh đều có cơ sở là những thành tựu của khoa học đương thời. Chính những phát minh khoa học đã cung cấp những luận cứ khoa học cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, cả chủ nghĩa Mác-Lênin, cả tư tưởng Hồ Chí Minh còn được làm giàu bằng kinh nghiệm từ tổng kết phong trào công nhân đương thời. Đúng như V.I.Lênin đã khẳng định: “Tất cả những cái mà xã hội loài người đã sáng tạo ra, Mác đã nghiền ngẫm lại một cách có phê phán, không hề bỏ sót một điểm nào, và đã thông qua phong trào công nhân mà kiểm tra lại; và Mác đã nêu ra được những kết luận mà những kẻ bị hạn chế trong cái khuôn khổ tư sản hay bị những thành kiến tư sản trói buộc, không thể nào rút ra được”6. Điều này hoàn toàn đúng cả với Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh. Những điểm trên cho thấy với bản chất khoa học, cách mạng như vậy thì tư tưởng Hồ Chí Minh không hề đối lập hay tách rời chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thứ hai, cả chủ nghĩa Mác-Lênin, cả tư tưởng Hồ Chí Minh đều là những học thuyết, tư tưởng nhân văn, giải phóng con người. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không có mục đích nào khác ngoài mục đích giải phóng con người khỏi mọi hình thức nô lệ, áp bức, bóc lột, nô dịch; nhằm giải phóng triệt để, toàn diện con người. Chính trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu khẩu hiệu: “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”7. Cũng chính vì vậy, các ông đã kêu gọi “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ” và “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”8. Bởi lẽ, với chủ nghĩa Mác-Lênin "lịch sử xã hội của con người luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cá nhân của những con người"9; và con người được giải phóng, được tự do phát triển toàn diện - đó là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội mới, chế độ xã hội mà giai cấp vô sản cách mạng và chính đảng của nó có sứ mệnh phải xây dựng. Đây cũng là mục tiêu nhân văn cao cả của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Với Hồ Chí Minh, Người không có mục tiêu nào khác là mục tiêu giải phóng con người mà, trước hết là con người Việt Nam. Từ đây chúng ta mới hiểu tại sao, trước lúc đi xa, đối với việc riêng Người lại viết : ‘‘Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa’’10. Cũng không phải ngẫu nhiên mà trong Lời mở đầu của “Tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chí Minh đã trích dẫn và hoàn chỉnh luận điểm bất hủ của Thomas Jefferson - nhà khai sáng nổi tiếng trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” 11. Cũng trên cơ sở của việc nhận thức giải phóng con người Hồ Chí Minh đã phát triển thêm: “Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”12. Nghĩa là con người luôn gắn với dân tộc và về bản tính phải được sống tự do, được mưu cầu hạnh phúc trong gia đình, trong dân tộc -Tổ quốc mình và trong đời sống nhân loại. Cũng chỉ trên cơ sở này chúng ta mới hiểu cả cuộc đời mình Hồ Chí Minh không có mục đích nào khác ngoài mục đích: Dân tộc được độc lập, dân quyền được tự do, dân sinh được hạnh phúc, như ham muốn của Người : « Nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bao ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành »13. Ngoài ra Hồ Chí Minh còn muốn giải phóng con người khỏi chủ nghĩa cá nhân, khỏi mọi sự tha hóa.

Qua trên cho thấy, cả chủ nghĩa Mác-Lênin, cả tư tưởng Hồ Chí Minh đều có điểm chung là tư tưởng nhân văn, tư tưởng giải phóng con người. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh không hề đối lập hay tách rời chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thứ ba, cũng giống như chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Nghĩa là cả chủ nghĩa Mác-Lênin, cả tư tưởng Hồ Chí Minh luôn gắn bó giữa giải thích thế giới và cải tạo thế giới phục vụ nhân loại tiến bộ. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh khác với chủ nghĩa hội không tưởng các loại là đã chỉ ra được con đường hiện thực cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân thông qua hoạt động thực tiễn của đông đảo nhân dân. Trong khi các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng muốn giải phóng con người dựa vào hoặc là các lực lượng siêu nhiên, hoặc là con đường khai sáng, giáo dục, mở mang dân trí. Những con đường giải phóng con người này đã chứng tỏ giữa lý luận và thực tiễn còn chưa thống nhất với nhau, con đường, biện pháp giải phóng con người của họ chưa có cơ sở thực tiễn và mang đậm lý thuyết suông, sách vở. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”14. Như vậy, trên tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu một cách biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm (mù quáng), còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều (lý luận suông, sách vở, lý thuyết suông). Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau. Ở đây, Hồ Chí Minh đã sử dụng thuật ngữ “mù quáng” thay cho “bệnh kinh nghiệm, chủ nghĩa kinh nghiệm” và thuật ngữ “lý luận suông” thay cho “bệnh giáo điều”. Điều này càng chứng tỏ, tư tưởng Hồ Chí Minh không hề xa lạ hay đối lập mà ngược lại thống nhất với chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Nghĩa là: Chủ nghĩa Mác-Lênin là một trong những nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều này, đã được Đảng ta nhiều lần nhất quán khẳng định rõ. Thực tế lịch sử cũng cho thấy chính Hồ Chí Minh là người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt Nam. Ban đầu, Người vận dụng chủ nghĩa Lênin vào cách mạng thuộc địa của Việt Nam.  “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I Lênin đã trở thành “cẩm nang thần kỳ”; “kim chỉ nam”; “mặt trời soi sáng” giúp Người vận dụng vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân. Sau này khi nhớ lại, Người đã khảng định “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”

Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin vào Quốc tế thứ ba”15. Hơn nữa, từ hành trình tìm đường cứu nước, nghiên cứu thực tiễn cách mạng hàng chục năm ở nhiều nước, Người nhận thấy: “cách mạng” có nhiều loại, “chủ nghĩa”, “học thuyết” cũng có nhiều nhưng chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga là thành công “đến nơi” và chủ nghĩa Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”16. Sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba.Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”17. Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng dần dần Người đã hiểu rằng “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”18.

Cũng cần khẳng định rằng, sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin bởi Hồ Chí Minh rất sáng tạo. Người luôn luôn xuất phát từ thực tiễn Việt Nam để vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin. Cho nên, với Hồ Chí Minh, “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được...

Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”19. Do vậy, Người cũng yêu cầu: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”20. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, ngay trước khi khẳng định điều này, Người đã nhấn mạnh “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó”21 (Phương Đông – tác giả nhấn mạnh). Với tinh thần biện chứng như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ kiên định, vận dụng sáng tạo mà còn phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp thực tiễn Việt Nam. Nếu C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin xuất phát từ thực tiễn châu Âu chỉ đề cập giai cấp công nhân, liên minh công - nông như là hạt nhân của khối liên minh đại đoàn kết dân tộc, thì Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người nêu khẩu hiệu liên minh công - nông - trí. Bởi lẽ, trí thức ở Việt Nam là con em công nhân, nông dân, người lao động. Do vậy, liên minh công - nông - trí là liên minh tất nhiên, khách quan, vốn có của cách mạng Việt Nam. Với V.I.Lênin, Đảng Cộng sản là “lương tâm, trí tuệ của thời đại” thì với Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đảng ta là đạo đức là văn minh” và người đặc biệt quan tâm xây dựng Đảng về đạo đức.

Mặc khác, mặc dù kế thừa chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng Hồ Chí Minh không bao giờ giáo điều hoặc kinh nghiệm hay xét lại. Hồ Chí Minh yêu cầu quán triệt: “Không chú trọng đến đặc điểm dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại”22. Như vậy, khi vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã rất chú ý phải tránh hai thái cực là chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại. Bởi lẽ, đây là hai căn bệnh thường gặp do không nhận thức đúng vai trò của quan điểm thực tiễn và những nguyên tắc phương pháp luận của phương pháp biện chứng duy vật. Từ đây cho thấy tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn không tách rời hay đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin.

Như vậy, từ các luận cứ trên cho thấy, những quan điểm tìm cách tách rời hay đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin, hoặc là cố tình không chịu hiểu, hoặc vì lợi ích nhóm của mình mà tìm cách tách rời, đối lập Hồ Chí Minh với C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đều là vô căn cứ. Những quan điểm này vừa trái với bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa trái với thực tế. Những quan điểm này về thực chất là sai trái, thù địch, đi ngược lại bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như bản chất của chủ nghĩa Mác-Lênin.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, H 1991, tr. 127.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, tr. 83-84.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 88.

4 https://dangcongsan.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dangKhông thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngày29/12/2020.

5 https://llct.hitu.edu.vn/Phê phán quan điểm đối lập, tách rời Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 21/7/2024.

6 V.I.Lênin: Toàn tập, Tiếng Việt, Nxb Tiến Bộ, M.1977, tập 41, tr.361.

7,8 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1995, tập 4; tr. 628, 624

9 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NxbCTQG, H. 1996; tập 27. tr.658.

10 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NxbCTQG,H.2011, tập 15, tr.623.

11, 12, 14  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.1, 1, 187

13, 22 Hồ Chí Minh:  Toàn tập, Sđd , tập 11; tr.95, 97-98.

15, 17, 18 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr.562, 563, 30

16 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd  tập 2, tr. 304, 289.

19, 20, 21 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 1, tr. 509-510, 510, 509