PGS, TS LÝ VIỆT QUANG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, trong quá trình tổ chức và lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”, trong đó vai trò then chốt là đội ngũ cán bộ. Để xây dựng đội ngũ cán bộ  làm nòng cốt thực hiện sứ mệnh của Đảng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng, Người rất chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Những quan điểm của Người về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vẫn mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, định hướng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng hiện nay.

1. Đào tạo, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng

Là vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng và cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vai trò của cán bộ và công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ. Người khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”1, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”2 và vì vậy “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”3.

Sau khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng cách mạng muốn thành công thì trước hết phải có đảng chân chính cách mạng lãnh đạo - Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng, Người đã mở lớp huấn luyện, đào tạo lý luận chính trị và trực tiếp tham gia giảng dạy, đào tạo các “hạt giống đỏ” của cách mạng Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc) trong những năm 1925-1927. Từ những cán bộ đầu tiên này, lớp lớp cán bộ của Đảng và cách mạng Việt Nam đã được đào tạo, bồi dưỡng và tham gia tổ chức, lãnh đạo các phong trào cách mạng, đưa đến những thắng lợi vẻ vang của cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, trong quá trình lãnh đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Hồ Chí Minh càng chú trọng chỉ ra vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục và công tác đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ. Người nêu rõ: “Bây giờ xây dựng kinh tế. Không có cán bộ không làm được. Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hoá. Trong việc đào tạo cán bộ, giáo dục là bước đầu”4.

Những năm sau này, khi nhắc nhở về công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ, Người chỉ ra rằng: “Cách mạng cũng là một nghề.

Làm nghề gì cũng phải học, vậy làm cách mạng cũng phải học. Nếu không giáo dục cho đảng viên làm cách mạng mà cứ yêu cầu họ làm cách mạng thì họ không làm tròn được nhiệm vụ”5.

Sự chú trọng của Hồ Chí Minh đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ càng có ý nghĩa thiết thực trong bối cảnh dưới ách thống trị của chế độ thực dân, cho đến năm 1945, có tới 95% dân số Việt Nam ở trong tình trạng mù chữ. Nhiều quan điểm, tư tưởng, thói quen cũ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của xã hội. Người coi một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, dốt nát cũng là một kẻ địch. Kẻ địch này câu kết cùng giặc ngoại xâm chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy, ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, cùng với cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm và “giặc đói”, một trong những nhiệm vụ cấp bách hàng đầu được Hồ Chí Minh xác định là phải thực hiện một chiến dịch chống nạn mù chữ, diệt “giặc dốt”. Do đó, các cán bộ trong bộ máy Đảng, Nhà nước càng cần thiết phải được đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng để thực sự xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc, đủ uy tín và năng lực lãnh đạo, tổ chức, dẫn dắt quần chúng nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thách thức, giành thắng lợi.

2. Học để làm việc, Học để làm người, Học để làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, Học để phụng sự giai cấp và nhân dân, Học để phụng sự Tổ quốc và nhân loại

Trong quan niệm của nền giáo dục Nho giáo truyền thống, việc học hết sức được coi trọng. Nhưng việc học đó là nhằm trở thành những vị quan phụ mẫu ban phát ân huệ cho người dân, để rồi “một người làm quan, cả họ được nhờ”. Đến thời chế độ thực dân phong kiến, do bản chất “chính sách ngu dân” của thực dân Pháp, giáo dục cũng bị biến tướng. Hồ Chí Minh phê phán: “Dưới chế độ thực dân phong kiến, mục đích đi học là cốt được mảnh bằng để làm ông thông, ông phán, lĩnh lương nhiều, ăn ngon, mặc đẹp. Thế thôi, số phận dân tộc thế nào, tình hình thế giới biến đổi thế nào, không hay, không biết gì hết”6.

Hồ Chí Minh sinh trưởng trong một gia đình Nho giáo, được tiếp xúc và học tập, đào tạo trước hết với nền giáo dục Nho giáo, nhưng Người không bị những quan điểm về việc học trong chế độ cũ chi phối. Người cho rằng mục tiêu của việc học, trước hết là để làm việc, làm người, rồi mới làm cán bộ. Thông qua quá trình lao động, làm việc mà nhân cách con người ngày càng được mài dũa và tôi luyện. Cũng thông qua quá trình học tập, những giá trị, phẩm chất người được tăng lên và ngày càng hoàn thiện. Khi có được năng lực làm người rồi, mới có thể ra làm cán bộ được. Bởi cán bộ là công bộc của dân, không phải là những vị quan phụ mẫu như trước đây là những người ngồi trên nhân dân, ban phát ân huệ cho nhân dân.

Học ngoài mục đích tự thân là để làm việc, làm người, làm cán bộ, còn có mục đích cống hiến – giá trị cao cả hơn mục đích tự thân. Hồ Chí Minh cho rằng học là để phụng sự. Phụng sự chứ không phải để hưởng thụ. Học không phải để có một cái vốn tri thức đưa ra mặc cả với Đảng. Học là để cống hiến, để phụng sự. Phụng sự trước hết là Đoàn thể (Đảng - TG), rộng hơn là phụng sự nhân dân, rộng hơn nữa là phụng sự Tổ quốc và nhân loại.

3. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải toàn diện, trong đó giáo dục đạo đức là gốc rễ, nền tảng

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải toàn diện. Chú trọng sự phát triển toàn diện nhân cách con người trên cả phương diện đạo đức và tài năng, Người luôn coi đạo đức và giáo dục đạo đức là nội dung gốc rễ, nền tảng của quá trình đào tạo, bồi dưỡng.

Trong những bài giảng của Hồ Chí Minh tại lớp huấn luyện lý luận chính trị ở Quảng Châu, bài học đầu tiên chưa phải là phương pháp hoạt động cách mạng, hay là cách thức tổ chức phong trào quần chúng, …. mà chính là về tư cách của một người cách mạng, với ba mối quan hệ chủ yếu: với mình, với người và với việc.

Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi cán bộ phải có cả đức lẫn tài, trong đó đức là gốc, là nền tảng cho sự phát triển lành mạnh và toàn diện của nhân cách. Theo Người, “Giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”7. Người chỉ ra rằng, đạo đức cách mạng không phải sẵn có trong mỗi con người, cũng không phải từ trên trời sa xuống, mà do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mới được hình thành và củng cố. Bởi vậy, việc giáo dục đạo đức là công việc không thể thiếu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Hồ Chí Minh cho rằng, trên nền tảng giáo dục đạo đức cách mạng, để xây dựng, đào tạo ra những cán bộ xứng đáng với sứ mệnh lịch sử của Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, phải chú ý đào tạo, bồi dưỡng, không ngừng nâng cao, hoàn thiện trình độ lý luận, tri thức văn hóa và chuyên môn, nghiệp vụ. Người chỉ rõ: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”8. Người xác định một nội dung hàng đầu trong 12 chuẩn mực xác định tư cách của một đảng chân chính cách mạng là: “Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng”9. Đánh giá tổng quát về vai trò của lý luận và việc học tập lý luận, Hồ Chí Minh kết luận “lý luận rất quan trọng”10, “lý luận rất cần thiết”11 và “học tập lý luận là một sự bức thiết đối với Đảng ta”12.

4. Quan điểm chỉ đạo và các biện pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Một là, lý luận gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành, học tập kết hợp với lao động, sản xuất.

Lý luận gắn với thực tiễn là nguyên lý mang tính chất xuyên suốt trong tư tưởng và cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”13. Người nhấn mạnh tầm quan trọng của lý luận đi đôi với thực tiễn. Nội dung xuyên suốt trong triết lý giáo dục con người của Hồ Chí Minh là giáo dục gắn liền với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh không dùng khái niệm “thực học, thực nghiệp” nhưng tư tưởng của Người về “giáo dục liên kết với đời sống của nhân dân, với công cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc” là phản ánh nội dung đó.

Theo Hồ Chí Minh, học là để làm người, làm việc, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu nước mạnh; học là để lấy cái thực chất, tiếp thu kiến thức từ đó vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, không phải là lấy tấm bằng để “lòe” người khác, cũng không phải để “nói mép”. Mục đích của học là để hành, để phát triển, để sống. Học mà không hành, không áp dụng vào thực tế khác nào chiếc hòm đựng đầy sách, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Người dạy và người học cần tham gia những công tác xã hội, ích nước lợi dân.

Hai là, phải phát triển trí tuệ, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.

Theo Hồ Chí Minh, trong giáo dục, người học bao giờ cũng là trung tâm. Đây là quan điểm rất mới, rất hiện đại - biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Người nhiều lần bày tỏ quan điểm chống lại cách dạy, cách học không hướng vào sự phát triển người học, không kích thích sự suy nghĩ trong học tập. Trong dạy học, Hồ Chí Minh yêu cầu phải “tránh lối dạy nhồi sọ”14, người dạy cần có phương pháp dạy sao cho phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học viên. Người cũng nhắc nhở cần có quan điểm dân chủ trong giáo dục, đối với mọi vấn đề “thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu. Điều gì chưa thông suốt, thì hỏi, bàn cho thông suốt”15. Đây là quan điểm mới so với phương pháp giáo dục nhồi sọ, áp đặt của chế độ thực dân, phong kiến, bắt thuộc lòng từng câu chữ, theo kiểu tầm chương trích cú, lối học giáo điều, thiếu sự sáng tạo.

Ba là, nêu gương, “làm kiểu mẫu” để học viên học tập, noi theo.

Phương pháp nêu gương là một phương pháp sinh động và có sức thuyết phục lớn được Hồ Chí Minh khai thác từ truyền thống giáo dục của dân tộc và phát triển theo yêu cầu của cách mạng. Với Người, các dân tộc phương Đông thường rất coi trọng các gương sáng trong thực tiễn đời sống và “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”16. Phương pháp nêu gương là phương pháp giáo dục cơ bản mang tính khoa học và thực tiễn, là một biện pháp hữu hiệu nhất để thống nhất giữa lời nói với việc làm. Phương pháp nêu gương vừa đáp ứng nhu cầu của con người là hướng thiện, muốn vươn tới cái tốt, cái đẹp, mong muốn học tập gương người tốt, việc tốt để hoàn thiện bản thân, vừa thể hiện niềm tin yêu, lạc quan của Hồ Chí Minh đối với con người, với sự nghiệp giáo dục.

Giáo viên là nhà giáo dục, hơn ai hết, người thầy phải là tấm gương sáng cho người học học tập và noi theo. Phương pháp nêu gương đòi hỏi nhà giáo phải là tấm gương có đạo đức, yêu nghề, yêu trò, có trình độ chuyên môn vững vàng, không ngừng học tập, nâng cao trình độ. Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng tới đạo đức, nhân cách người thầy. Đạo đức của người giáo viên thể hiện ở nhân cách và lối sống tốt đẹp, ở sự thống nhất giữa lời nói với việc làm, ở phong cách mô phạm, lối sống giản dị, gần gũi với mọi người… Thầy cô giáo phải là tấm gương cho người học về cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong cuộc sống. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu”17. Người chính là tấm gương mẫu mực của việc nêu gương, là tấm gương sáng cho bao thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

Bốn là, nêu cao tinh thần tự nguyện, tự giác học tập, phải “lấy tự học làm cốt”.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, về giáo dục, đào tạo nói riêng, tư tưởng về tự học, đặc biệt là tấm gương sáng của Người về tự học và học suốt đời là bài học vô cùng quý giá đối với mỗi thế hệ người Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm giàu vốn tri thức của mình bằng vốn tri thức tiên tiến nhất của thời đại, Người trở thành anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất thông qua con đường tự học.

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, cốt lõi của học tập chính là tự học. Người nhắc nhở các thầy cô giáo phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phát huy tính chủ động sáng tạo của học viên. Điều quan trọng là phải dạy cho học viên cách học để họ tự đào sâu suy nghĩ. Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người khẳng định: “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”18. Tiếp đến, khi nói về công tác huấn luyện và học tập năm 1950, Người lại nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”. “Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”19.

Hồ Chí Minh thường phê phán việc học tập thụ động, lười học, ỷ lại vào các thầy cô giáo và nhà trường. Người căn dặn: “không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”20, phải tự tìm tòi tài liệu học tập, lấy sách làm thầy. Nếu học là quá trình biến những tri thức khoa học được tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, thì tự học chính là yếu tố cơ bản nhất, làm cho quá trình tích lũy ấy diễn ra nhanh nhất và hiệu quả nhất. Tự học là sự nỗ lực, sự làm việc của bản thân người học trên cơ sở phát huy cao độ tinh thần tự nguyện, tự giác.

Năm là, mỗi cán bộ phải xác định tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt là công việc suốt đời, học không bao giờ cùng.

Học tập là một công việc suốt đời, mỗi người cần luôn tự trau dồi kiến thức của mình qua nhiều hình thức học tập đa dạng, học mọi lúc, mọi nơi.

Theo Hồ Chí Minh, học tập là một công việc suốt đời, là một nhiệm vụ cách mạng, bởi xã hội ngày càng phát triển, công việc ngày càng nhiều, máy móc ngày càng tinh xảo, để không lạc hậu, không bị đào thải, phải không ngừng học tập. Người khẳng định: “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”21. Sự học là vô cùng vì “dừng lại là lùi bước, là lạc hậu, mình tự đào thải trước”22.

Để đáp ứng nhu cầu của tình hình mới khi thế giới luôn vận động và ngày càng đổi mới, tri thức nhân loại ngày càng phong phú, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển ... mỗi người phải không ngừng cố gắng nâng cao cả năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức của bản thân. Nói chuyện với cán bộ, công nhân nhà máy cơ khí Hà Nội (2-2-1960), Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trước đây làm việc theo lối thủ công, nhưng bây giờ làm bằng máy móc tinh xảo cả, nên việc học tập văn hóa, nâng cao trình độ kỹ thuật là rất cần thiết”23, không có trình độ văn hóa và kỹ thuật thì không thể điều khiển được máy móc hiện đại.

Học tập, tu dưỡng là công việc suốt đời, không bao giờ cùng, là trách nhiệm của mỗi người, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Chỉ có không ngừng học tập, nâng cao trình độ, mỗi cá nhân mới không ngừng tiến bộ và từng bước vươn tới chiếm lĩnh đỉnh cao trí tuệ của nhân loại.

Sáu là, phải có thái độ học tập đúng đắn.

Để hoạt động tự học đem lại hiệu quả tốt nhất, bản thân mỗi người học cần xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn. Trả lời cho câu hỏi: Học để làm gì, Hồ Chí Minh giải thích: “Học để sửa chữa tư tưởng… Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng… Học để tin tưởng… Học để hành”24. Theo Người, học không phải để lấy danh, để trang sức, mà học để làm việc, làm người, học để phụng sự Đảng, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Khi có động cơ học tập đúng đắn người học mới tự nguyện, tự giác học tập, không bị gò ép, khiên cưỡng, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước mọi khó khăn, thử thách. Khi tự nguyện, tự giác học tập, người học mới chủ động tìm tòi, khám phá tri thức bằng tinh thần say mê, hứng thú, mới tiếp cận được nhanh nhất chân lý của khoa học và thời đại. Người cũng chỉ ra rằng, phải nêu cao tác phong “độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”, ‘tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều”; không nên học thuộc lòng từng câu từng chữ, tránh lối học vẹt; “tuyệt đối không nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều”; “Phải khiêm tốn, thật thà”, tránh kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn trong học tập; “Học lẫn nhau”. “Học nhân dân”.

5. Nền tảng định hướng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đặc biệt trong bối cảnh mới của Việt Nam hiện nay. Qua 40 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần nâng cao cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Tuy nhiên, như Đảng đã chỉ rõ, tình hình thế giới và trong nước vừa đang chứa đựng nhiều yếu tố thuận lợi, đồng thời vừa có cả những khó khăn, thách thức đan xen, có những diễn biến phức tạp, mau lẹ, khó lường. Trong điều kiện đó, để thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng khi bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, hiện thực hóa khát vọng phát triển một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các nước trên thế giới, với vai trò là người lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng phải không ngừng vươn lên những tầm cao mới một cách toàn diện, cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, phải thực sự xứng đáng là tiêu biểu về đạo đức và văn minh, tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, phẩm giá của dân tộc. Trong khi đó, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thậm chí “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh, uy tín của Đảng trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo cơ hội cho các thế lực phản động, thù địch tăng cường chống phá. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (tháng 10-2016) đã chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thậm chí “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và Đảng bộ nhiều địa phương đã tiếp tục cụ thể hóa cho sát hợp với điều kiện cụ thể.

Tình hình trên càng đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, trong đó có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng - công việc gốc rễ của công tác then chốt của nhiệm vụ then chốt. Do đó, với ý nghĩa quan trọng như vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng cũng đứng trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới, nhằm góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ đội ngũ cán bộ của Đảng; góp phần luận giải, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của cách mạng, đặc biệt là lý luận về đổi mới, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đồng thời góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Trong tình hình đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vẫn giữ nguyên giá trị thời sự, là nền tảng định hướng, soi sáng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng hiện nay, từ việc nhận thức vai trò hết sức quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đến nội dung, nguyên tắc, biện pháp, hình thức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đó là trách nhiệm chung của toàn Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là vai trò nòng cốt của hệ thống trường Đảng từ Trung ương đến địa phương.

1, 2, 3, 7, 9, 18, 20 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.280, 309, 309, 292, 289, 312, 360

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.345.

5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.294.

6, 15 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 9, tr.178, 266

8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tr.273-274.

10, 11, 12, 13, 19 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 7, tr.127, 94, 93, 95, 98

14 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 14, tr. 746.

16 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 1, tr.284.

17, 22, 23 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr.269, 266, 459

21, 24 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.61, tr.360 – 361.