PGS, TS ĐỖ XUÂN TUẤT
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Quảng Châu (Trung Quốc) là nơi ghi dấu mốc lịch sử lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở các lớp huấn luyện cán bộ làm nòng cốt cho phong trào cách mạng Việt Nam thời dựng Đảng, cứu nước (1925-1927), chuẩn bị cho họ "trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”. Những lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên ấy cho thấy tầm nhìn chiến lược của Người, để lại những giá trị to lớn, quý báu cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng.
1. Tầm nhìn huấn luyện cán bộ trong lộ trình về thành lập và tổ chức hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên - một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ những năm 1920, sau khi tiếp nhận ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cách mạng cứu nước, cứu dân, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị xây dựng lực lượng cách mạng để thực hiện mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc. Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc được Quốc tế Cộng sản phái về Quảng Châu (Trung Quốc), nhận trách nhiệm phụ trách phong trào cách mạng ở một số nước châu Á. Ngày 11-11-1924, Người tới Quảng Châu - trung tâm cách mạng thời đó được gọi là “Mátxcơva của phương Đông”1. Đây là địa bàn - chỗ dựa đáng tin cậy, một đầu cầu quan trọng cho hoạt động của các nhà yêu nước và cách mạng của Việt Nam cũng như nhiều nước châu Á.
Là thành viên của đoàn cố vấn Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Trung Hoa dân quốc, trên đất Quảng Châu, với sự giúp đỡ tích cực của nhiều nhà cách mạng Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã thúc đẩy tiến trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau khi tới Quảng Châu, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp xúc với nhóm Tâm Tâm xã trong đó có Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu,... giảng giải cho họ mục đích, phương pháp làm cách mạng giải phóng dân tộc, sự cần thiết phải học lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, xây dựng Đảng Cộng sản. Những thành viên đầu tiên của Tâm Tâm xã đã đến với Nguyễn Ái Quốc và sớm thấy ở Người phẩm chất, tài năng, uy tín, sức quy tụ của vị lãnh tụ, người chỉ đường sáng suốt của mình.
Việc Nguyễn Ái Quốc xúc tiến mở lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên gắn liền với việc Người quan tâm thành lập một tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mácxít để qua đó dần tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin vào quần chúng lao động. Có thể thấy rõ ý tưởng đó của Nguyễn Ái Quốc khi Người cho biết vào mùa hè năm 1927, lúc đã trở lại Mátxcơva: "Trừ một số rất ít người Việt Nam sang du học bên châu Âu, không một ai biết chủ nghĩa cộng sản là gì và không thể thành lập một đảng cộng sản ở Đông Dương khi không một ai hiểu được ý nghĩa của từ “cộng sản”; chỉ có thể thành lập được một đảng xã hội dân tộc mà các lãnh tụ của nó có nhiệm vụ dần dần đưa các hội viên của mình tới chủ nghĩa Mác2. Toàn bộ sự vận động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên với việc mở các lớp huấn luyện chính trị từ cuối năm 1925 đến tháng 5-1929 đã chứng minh tính đúng đắn của tư tưởng và giải pháp trên của Nguyễn Ái Quốc.
Quảng Châu là nơi ghi dấu son lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6-1925) - một tổ chức cách mạng có khuynh hướng mác xít và là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam; xuất bản tờ báo Thanh Niên - cơ quan của Tổng bộ Thanh niên, để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, lý luận cách mạng về trong nước. Đây là nơi Người mở các lớp huấn luyện chính trị đào tạo đội ngũ cán bộ làm nòng cốt cho phong trào cách mạng Việt Nam.
2. Tạo lập những tiền đề vững chắc cho việc mở lớp huấn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng đầu tiên thời dựng Đảng
Để chuẩn bị cho việc mở các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng đầu tiên, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có những hoạt động khẩn trương và đầy hiệu quả trong giải quyết các công việc cần kíp để xác lập những tiền đề vững chắc cho việc mở lớp, từ: hình thành “Ban huấn luyện chính trị đặc biệt”, tổ chức tuyển chọn những thanh niên yêu nước đến Quảng Châu để huấn luyện, thiết lập đường dây đưa đón, chọn địa điểm mở lớp, soạn giáo trình, bài giảng, tận dụng những mối liên hệ và cả với tư cách cá nhân để hình thành đội ngũ giảng viên cho đến tính toán các điều kiện hậu cần, nơi ăn ở, kinh phí cho việc mở lớp,….
Trước hết là việc tổ chức hệ thống đường dây liên lạc với trong nước để đưa đón thanh niên ra nước ngoài, tới Quảng Châu dự lớp huấn luyện.
Thời điểm này, cùng với Tâm Tâm xã, tổ chức Hội Hưng Nam (sau đổi tên là Việt Nam Cách mạng Đảng) cũng rất tích cực cử người sang Quảng Châu. Dựa vào các thành viên cũ của Tâm Tâm xã - một tổ chức yêu nước tiến bộ, có xu hướng cách mạng của những thanh niên Việt Nam sống và hoạt động ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc khai thác và sử dụng lại các trạm giao thông đưa người xuất dương đã hình thành từ các phong trào Cần Vương, Đông Du... để tổ chức đường dây liên lạc với trong nước, đưa đón thanh niên tới Quảng Châu huấn luyện cách mạng theo kế hoạch của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản tháng 2-1925, Nguyễn Ái Quốc cho biết: "Chúng tôi có tại Xiêm một trạm - cơ sở (để đưa đón người ra vào) khá vững. Ở đó có chừng 50 người làm ruộng đoàn kết chặt chẽ và trước đây đã giúp được rất nhiều việc. Giờ đây, chúng tôi phải tổ chức họ lại về mặt chính trị và củng cố cơ sở đó về mặt kinh tế, bằng cách mở rộng nó”3. Nguyễn Ái Quốc đã dần thiết lập được các tuyến giao thông đưa đón sau đây:
Tuyến Băng Cốc - Quảng Châu: xuất phát từ Trại Cày của Đặng Thúc Hứa ở Bản Đông - Phì Chịt, đi Băng Cốc, xuống tàu chạy tuyến Hồng Kông - Quảng Châu. Đây là tuyến mà phần đông thanh niên từ quê hương Nghệ - Tĩnh như Vương Thúc Oánh, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong và nhiều người khác đã thoát ly để dấn thân hoạt động cách mạng.
Tuyến Móng Cái - Quảng Châu: xuất phát từ cơ sở nhà số 7 Bến Ngự, Nam Định, đi xe lửa ra Hải Phòng, xuống tàu đi Móng Cái, vượt sông Ka Long đến cơ sở liên lạc ở Nà Sáo Tụ, sau đó xuống thuyền buồm đi Bắc Hải, rẽ vào sông Hoàng Phố, rồi đi tàu ngược lên Quảng Châu. Đó là tuyến Nguyễn Công Thu, Nguyễn Danh Thọ, Nguyễn Sơn, Trần Tư Chính và nhiều người khác đã đi.
Tuyến Lạng Sơn qua Long Châu - Nam Ninh (Quảng Tây) đến Quảng Châu. Tuyến này kết hợp đường xe lửa, đường bộ, đường thuỷ, phải vượt qua nhiều núi non hiểm trở, nhiều khi phải đi lẫn vào các nhóm buôn lậu, rất nguy hiểm và thường mất nhiều thời gian. Đồng chí Nguyễn Công Thu là giao liên đã dẫn đường cho nhóm đồng chí Phạm Văn Đồng và nhiều người khác đi theo tuyến này.
Tuyến giao thông trên các tàu buôn của Trung Quốc, Anh, Pháp, Nhật.... chạy đường Sài Gòn - Hải Phòng - Hồng Kông - Thượng Hải, có cơ sở của ta là những thuỷ thủ yêu nước và giác ngộ cách mạng là người Việt Nam và người nước ngoài. Nhóm học viên từ Nam Bộ như Lê Mạnh Trinh, Ngô Thiêm, Lê Văn Phát. Trần Trương.... chủ yếu đi đường này.
Ngoài ra, để liên lạc với Quốc tế Cộng sản và đại diện các đảng anh em ở Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng hệ thống giao thông liên lạc của cơ quan đại diện của hãng Rôxta, nơi Nguyễn Ái Quốc làm việc và phái bộ Bôrôđin, nơi Nguyễn Ái Quốc lưu trú với tư cách là phiên dịch viên thuộc văn phòng cố vấn. Khi có việc gấp, việc liên lạc được thực hiện qua điện đài.
Đến năm 1925-1926, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn tất hệ thống giao liên với trong nước, bao gồm kế thừa hệ thống đã có của các nhà cách mạng tiền bối và tạo ra những tuyến giao liên mới. Hệ thống đó bảo đảm đưa đón cán bộ, chuyển tài liệu, sách báo tiến bộ về nước với quy mô và cường độ ngày một tăng, theo sự phát triển của phong trào cách mạng và yêu cầu mở lớp đào tạo những thanh niên xuất dương thành hạt giống đỏ, nhóm trung kiên cách mạng thời dựng Đảng.
Song song với lập "Chính trị đặc biệt huấn luyện Ban", được sự giúp đỡ của Tỉnh uỷ Đảng Cộng sản Trung Quốc tỉnh Quảng Đông và Chính phủ cách mạng ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã sớm tìm được địa điểm để mở “trường huấn luyện”. Trụ sở của trường đặt tại số nhà 13 và 13B đường Văn Minh (nay là số nhà 248 và 250), đối diện Trường đại học Trung Sơn (nay là Bảo tàng cách mạng Quảng Châu). Tầng dưới là cửa hàng buôn bán tạp hoá. Lớp học được đặt trên tầng 3 nhà số 13, còn tầng 3 nhà số 13B là chỗ ăn ở của học viên. Trước cửa nhà có gắn tấm biển để "Chính trị đặc biệt huấn luyện Ban" bằng chữ Hán4.
Có thể nói, với sự ra đời của "Chính trị đặc biệt huấn luyện Ban", trên thực tế lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập tổ chức đào tạo cán bộ tiền thân của Trường Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Song song với việc thiết lập hệ thống giao liên, gấp rút tuyển lựa một đội ngũ cán bộ làm nòng cốt cho phong trào cách mạng và tiến hành tuyên truyền, cổ động tư tưởng cứu nước trong quần chúng nhân dân, để thực hiện được công việc to lớn đó, Nguyễn Ái Quốc phải vượt qua muôn vàn khó khăn về trường lớp, giáo trình, tuyển sinh, quản lý và đặc biệt là tài chính. Trong một báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, cuối năm 1925, Người đã nói rõ: “Để chi vào các phí tổn, tôi đã lấy số còn lại trong món tiền đi đường của các đồng chí cho tôi. Nhưng về sau thì sao?5
Để mở lớp, Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng hết thảy những mối liên hệ riêng, với tư cách cá nhân, do quan hệ bạn bè cũ với những thành viên quan trọng của Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng Trung Quốc, như: Chu Ân Lai, Trương Thái Lôi, Bành Bái,… hoặc với những người cùng hoạt động trong Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức như Liêu Trọng Khải, Bao Huệ Tăng.
Vượt qua tất cả những khó khăn, với tầm nhìn và tài năng tổ chức, được sự giúp đỡ của Khu ủy Quảng Đông của Đảng Cộng sản Trung Quốc và đoàn Cố vấn Xôviết (do Bôrôđin đứng đầu), Lớp huấn luyện chính trị đầu tiên đã chính thức khai mạc cuối năm 1925 tại ngôi nhà 13A và 13 B đường Văn Minh6, Quảng Châu. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 3-6-1926, Nguyễn Ái Quốc cho biết: “Tổ chức một trường tuyên truyền. Các học viên được bí mật đưa đến Quảng Châu. Sau một tháng rưỡi học tập họ trở về nước. Khóa thứ nhất được 10 học viên. Khóa thứ hai sẽ mở vào tháng 7 tới, sẽ có khoảng 30 người”7. Với tài tổ chức khéo léo chỉ thời gian ngắn, Nguyễn Ái Quốc đã có thể mở các lớp huấn luyện, lớp sau đông học viên hơn lớp trước, nội dung huấn luyện cũng ngày càng phong phú hơn, có thêm nhiều giảng viên mới là cán bộ lãnh đạo của các đảng anh em tham gia.
Theo hồi ký của Hồ Tùng Mậu: Lớp học (thứ nhất) do Nguyễn Ái Quốc phụ trách; ngoài ra còn có giảng viên là lãnh đạo của các đảng anh em (Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quốc dân Đảng Trung Hoa (của Tôn Trung Sơn),… đến giảng, bằng tiếng Anh thì Nguyễn Ái Quốc dịch, tiếng Trung Quốc thì Lâm Đức Thụ dịch. Từ giữa năm 1926 đến đầu năm 1927, Nguyễn Ái Quốc mở thêm hai lớp, mỗi lớp 30 người8; Khoá ba kết thúc vào khoảng tháng 2-1927.
Do số học viên tăng lên, lớp học ở số nhà 13 đường Văn Minh trở nên chật chội, phải mở thêm cơ sở mới ở phố Nhân Hưng, gần đại lộ Đông Cao, trên gác 2. Hồ Tùng Mậu được giao phụ trách phần sinh hoạt và ngoại khoá của lớp: mua sắm chăn màn, quần áo mùa đông, chăm sóc vệ sinh, ăn ở, thể dục và đưa học viên đi tham quan các cơ sở cách mạng trong thành phố. Một phần kinh phí lớp học do Đảng Cộng sản Trung Quốc giúp; một phần do Quận ủy Quảng Đông cung cấp; ngoài ra còn có anh em sĩ quan và học sinh quân Việt Nam ở trường Hoàng Phố hàng tháng bớt tiền lương đóng góp9.
Để mở các lớp học đầu tiên thời dựng Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã phải vượt qua biết bao khó khăn, trước hết là về tài - chính. Như chúng ta đã biết: đồng ý với đề nghị của Nguyễn Ái Quốc được đi Quảng Châu, nhưng Ban phương Đông sẽ chỉ chi tiền đi đường cho tới khi đến đó, còn sau đó Nguyễn Ái Quốc "phải tự xoay xở tìm lấy công việc". Nguyễn Ái Quốc phải làm việc cho hãng thông tấn Rôxta với lương mỗi tháng là 150 đôla, trong khi chi phí cho một học viên từ Đông Dương đến Quảng Châu và trở về đã mất 200 đôla. Trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản lúc đã trở về Mátxcơva (6-1927), Nguyễn Ái Quốc cho biết: "Trong suốt thời gian ấy (1924-1927), tôi không nhận được quỹ, cũng không được lương của Quốc tế Cộng sản, tôi phải làm việc dịch thuật để kiếm sống và để phụ thêm cho công tác mà nó ngốn từ 75 đến 80% tiền lương của tôi, cộng với tiền đóng góp của các đồng chí”10. Nguyễn Ái Quốc đã phải làm việc cật lực để kiếm tiền lo cho học viên của lớp huấn luyện về ăn, ở, quần áo nơi xứ lạnh và các khoản chỉ phí khác cho học hành, đi lại... và cũng phải đi vay mượn nhiều. Tất nhiên, trước khó khăn, Nguyễn Ái Quốc đã nhận được sự giúp đỡ chí tình của các đồng chí trong đoàn Cố vấn Xôviết có mặt ở Quảng Châu; sự đóng góp một phần của học viên, nhất là sự chi viện của Đảng Cộng sản Trung Quốc và các tổ chức cách mạng ở Quảng Châu. Để lo chu toàn việc tổ chức các lớp là một nỗ lực và khả năng làm việc phi thường của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc: "Bác phải thường xuyên làm việc từ 5 giờ sáng đến 12 giờ đêm, sức khoẻ kém, bị ho nhiều, có lúc ho ra máu". Trong điều kiện sinh hoạt vật chất của học viên khá khó khăn, có lúc "Đồng chí Vương đã dặn nhà bếp chia cả phần cơm cháy cho học viên ăn cho thơm miệng"11,... Bởi vậy, sau khi từ Quảng Châu trở lại Mátxcơva (1927), Nguyễn Ái Quốc đã phải đi điều trị tại bệnh viện một thời gian.
3. Một mẫu mực của chương trình, cách thức mở lớp huấn luyện cán bộ thời dựng Đảng
Nội dung, chương trình huấn luyện bao gồm cả lý thuyết lẫn thực hành, gắn liền lý luận với công tác thực tế. Về lý thuyết, học viên được nghiên cứu tình hình thế giới, lịch sử tiến hóa của nhân loại, nhấn mạnh thời kỳ chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, phong trào giải phóng dân tộc Triều Tiên, Trung Quốc; nghiên cứu chủ nghĩa Mác gắn với Cách mạng Tháng Mười Nga 1917, Cách mạng Mỹ, Cách mạng Pháp; nghiên cứu chủ nghĩa Găngđi, chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên; nghe giảng về lịch sử và các tổ chức quốc tế như tổ chức Quốc tế I, Quốc tế II, Quốc tế III; Quốc tế Phụ nữ, Quốc tế Công hội đỏ, Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Nông dân, Quốc tế Cứu tế đỏ, Quốc tế Công nhân; các tổ chức Công hội, Nông hội, v.v..
Về tài liệu huấn luyện, căn cứ theo chương trình, nội dung huấn luyện, có thể thấy đó là tài liệu về chủ nghĩa Mác - Lênin; tri thức trong sách, báo của Nguyễn Ái Quốc viết từ trước đó, đặc biệt là cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp, báo Le Paria; những bài phát biểu trên các diễn đàn Đại hội quốc tế.... Cùng với những bài giảng trong lớp huấn luyện chính trị, các học viên (như Nguyễn Lương Bằng trong Hồi ký đã cho biết) còn được đọc báo Thanh niên như một tài liệu chính thức của các lớp huấn luyện.
Ngoài học tập lý luận, các học viên được giáo dục về “Tư cách của người cách mạng” được thực hành về: tập diễn thuyết, tập giảng bài, tập vận động, giải thích một vấn đề chính trị nào đó cho người khác nghe, theo các yêu cầu: biết sử dụng ngôn ngữ thích hợp với từng đối tượng, biết thu hút, dẫn dắt người nghe; nội dung bài nói phải dễ hiểu, thích hợp với hoàn cảnh, có dẫn chứng cụ thể, trung thực,...
Giảng viên chính của lớp là đồng chí Vương (lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc). Bên cạnh đó là một số giảng viên người Việt như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,... Nhiều lần, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu còn là giáo viên phụ giảng cho Nguyễn Ái Quốc và các giảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô, trong đó có những đồng chí vốn là bạn cùng hoạt động với Nguyễn Ái Quốc thời kỳ ở Pháp. Nhận lời mời của Nguyễn Ái Quốc, các đồng chí như Liêu Trọng Khải, Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Thái Sướng, Trần Diên Niên, Trương Thái Lôi, Bành Bái cùng với một số đồng chí trong Ban lãnh đạo cuộc Tổng bãi công Hương Cảng - Quảng Châu cũng đến lớp giảng bài, nói về một số vấn đề của cách mạng Trung Quốc lúc bấy giờ. Ngoài ra, một số giảng viên Liên Xô trong đoàn cố vấn của Chính phủ cách mạng Trung Quốc, do Bôrôđin làm trưởng đoàn, cũng được Nguyễn Ái Quốc mời đến trình bày một số chuyên đề về lịch sử Đảng Cộng sản Bônsêvích Liên Xô, về công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô.
Nội dung học tập thật mới mẻ và phong phú đã lôi cuốn sự say mê học tập của học viên là những thanh niên trẻ tuổi đầy nhiệt huyết. Sức thu hút mạnh mẽ nhất đối với họ chính là những bài giảng của Người Thầy vĩ đại Nguyễn Ái Quốc. Bằng lối diễn giảng sinh động, hấp dẫn, với nhiều dẫn chứng cụ thể, thiết thực, phù hợp với đối tượng, Người đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận vốn rất phức tạp, khó hiểu, giúp cho họ hiểu sâu, nhớ lâu, thực hành tốt. Trong các lớp học đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc rất coi trọng trang bị cho học viên kỹ năng thực hành các công việc thực tế, đặc biệt là kỹ năng vận động quần chúng, thực hành tuyên truyền, diễn thuyết12.
Năm 1927, nội dung các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc được Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức tập hợp xuất bản thành cuốn Đường kách mệnh Đường kách mệnh là cuốn sách giáo khoa chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam, đặt cơ sở cho việc hình thành đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản; đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, theo con đường cách mạng Tháng Mười Nga, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Đường kách mệnh là một tác phẩm lý luận lớn thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc. Tác phẩm đặt cơ sở cho sự hình thành một cương lĩnh chính trị đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.
Vừa học tập lý luận, các thành viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên còn được Nguyễn Ái Quốc khuyến khích học tập thêm văn hóa, nhất là học ngoại ngữ để có thể dễ dàng giao dịch và hoạt động ở nước ngoài. Người động viên mọi người đăng ký học ngoại ngữ theo nguyện vọng (ví dụ: Nguyễn Lương Bằng đã biết tiếng Pháp và tiếng Trung, nên ghi tên vào học lớp học tiếng Anh và đã được Nguyễn Ái Quốc trực tiếp dạy một số buổi). Khả năng ngoại ngữ của Nguyễn Ái Quốc đã khuyến khích những người học hứng thú, tích cực học tập. Năng lực ngoại ngữ của học viên, vì thế được củng cố, nâng cao trong thời gian này. Tại lớp, lần đầu tiên học viên được học bài Quốc tế ca do Nguyễn Ái Quốc dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt theo thể thơ lục bát, dễ thuộc, dễ nhớ.
Học viên còn được học ở chính con người Nguyễn Ái Quốc, một lãnh tụ có trí tuệ uyên bác, một người anh chí tình, chí nghĩa; một người thầy mẫu mực, giản dị và khiêm tốn, có tác phong tỉ mỉ cụ thể, có một tinh thần hy sinh tận tụy vì cách mạng và một sức làm việc phi thường. Nguyễn Ái Quốc chăm sóc lớp học rất tận tình, từ giảng dạy, hướng dẫn thảo luận đến mọi sinh hoạt của mỗi học viên, như trong thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản ngày 18-12-1924, Người viết: “Và khi các học viên đến Quảng Châu, rất có thể rồi sẽ phải đem tất cả hoặc gần tất cả thì giờ của tôi vào việc huấn luyện họ”. Tinh thần trách nhiệm của Nguyễn Ái Quốc đối với các lớp huấn luyện tiếp theo, đều như thế. Điều đó mỗi ngày cứ thấm sâu vào từng học viên và theo họ trong suốt những chặng đường cách mạng đầy gian khổ hy sinh và nâng đỡ họ vượt qua để chiến thắng.
Một hoạt động thực tế khác rất có ý nghĩa là thực hiện chương trình ngoại khóa như tham quan hoặc thâm nhập thực tế các cơ sở cách mạng ở Quảng Châu; thăm Nghĩa trang Hoàng Hoa Cương, nơi có 72 liệt sĩ hy sinh trong Cách mạng Tân Hợi, viếng mộ Liệt sĩ Phạm Hồng Thái; tham gia các cuộc mít tinh, tuần hành của quần chúng cách mạng, các cuộc bãi công của công nhân đang diễn ra liên tục trong khí thế sục sôi cách mạng. Điều đó giúp cho các học viên như “Được tham dự những cuộc đấu tranh, hoạt động cách mạng trong khí thế sục sôi của quần chúng”13.
Cùng với các lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc còn tuyển chọn và gửi cán bộ tham gia các lớp đào tạo chuyên sâu về quân sự tại Trường quân sự Hoàng Phố (thời kỳ này, có khoảng 30 học viên Việt Nam theo học Trường Quân sự Hoàng Phố14) và cử đi đào tạo, bồi dưỡng về lý luận tại Trường Đại học Phương Đông ở Mátxcơva (Liên Xô)15… Sau khi đã gửi thanh niên đi du học, Người vẫn còn tiếp tục chỉ đạo việc đào tạo họ. Về điều này, A.I. Trêrêpanốp, một trong những cố vấn quân sự, đồng thời là giáo viên của Trường Quân sự Hoàng Phố xác nhận: “Đồng chí Hồ Chí Minh ở Quảng Châu vào những năm 1924-1925 đã thường xuyên liên hệ với các học viên Việt Nam ở Trường Hoàng Phố và chỉ đạo việc giáo dục họ16.
Giữa lúc công việc đang tiến triển tốt đẹp, thanh niên yêu nước được tuyên truyền, giác ngộ nô nức tìm đường tới Quảng Châu, thì xảy ra cuộc chính biến phản cách mạng của Tưởng Giới Thạch (tháng 4 – 1927). Chính quyền phản động của Lý Tế Thâm ở Quảng Châu khủng bố, bắt giam nhiều người cộng sản. Những thành viên cốt cán của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đều bị bắt. Trước tình thế đó, Nguyễn Ái Quốc lánh lên Thượng Hải, rồi từ đó trở lại Mátxcơva, sau đó tìm đường về Xiêm tiếp tục gây dựng phong trào. Đồng thời, chỉ đạo tổ chức những hình thức huấn luyện cán bộ linh hoạt, phù hợp với tình hình mới.
4. Sức sống của một trường học cách mạng và thế hệ cán bộ đầu tiên thời dựng Đảng
Thời kỳ 1925-1927 ở Quảng Châu đánh dấu một bước ngoặt mới trong quá trình chuẩn bị các tiền đề vững chắc để dựng Đảng và cứu quốc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là thời kỳ gắn liền với những lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên thời dựng Đảng, chuẩn bị cho họ "trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.
Những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm mà đội ngũ cán bộ lớp đầu tiên được trang bị trong quá trình học tập là “chất liệu” rất thiết thực, quý báu đối với họ: được mở mang kiến thức, nhất là những vấn đề căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, về con đường cách mạng Việt Nam, về tư cách của người cách mạng; làm chuyển biến quan trọng về nhận thức của lớp học viên đầu tiên: từ chủ nghĩa yêu nước đi tới chủ nghĩa cộng sản. Đó là vốn quý mà Người đã chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Tuyệt đại bộ phận học viên học xong đều trở về nước và trở thành những người tuyên truyền, những người tổ chức các tổ chức cách mạng trong nước và trong Việt kiều ở Xiêm. Trong điều kiện vô vàn khó khăn dưới sự thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, đội ngũ cán bộ được đào tạo ở Quảng Châu là một lực lượng rất cơ bản, rất quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào quần chúng nhân dân ở nước ta. Hồi ức của Phạm Văn Đồng, học viên lớp thứ 3 cho biết: “Những điều học được ở Quảng Châu là những hạt nhân cách mạng rất quý báu, bởi vì rất mới mẻ, rất hợp với hoài bão của mọi người. Nó đem lại sự biến đổi rất sâu sắc trong tâm trí, tư cách và tác phong của người học để cố gắng phấn đấu trở thành người chiến sĩ cách mạng. Để trở thành người cách mạng chuyên nghiệp cần ra sức tu dưỡng bản thân và hoạt động thực tiễn theo cách “vô sản hóa”. Theo tôi biết, các vườn ươm ở khắp ba kỳ đều trưởng thành nhanh chóng biến thành những vườn cây đầy sức sống với những hoa quả là những phong trào quần chúng phong phú và đa dạng. Ở nơi tôi hoạt động là Nam Kỳ, thật đáng ngạc nhiên là chỉ ít lâu sau (trong vài năm) hầu như các tỉnh đều có chi nhánh Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội”17.
Thực tế kết thúc các khoá học, có học viên được giữ lại ở nước ngoài để công tác, có người được cử đi học tiếp ở Trường Đại học phương Đông, có người vào học Trường quân sự Hoàng Phố,... còn phần đông được cử về nước hoạt động, gây dựng và phát triển tổ chức cách mạng. Trước khi về nước, nhiều người trực tiếp đến gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tại các cuộc gặp này, họ được Người truyền đạt thêm kinh nghiệm, cách thức hoạt động bí mật và trao nhiệm vụ cụ thể để phát triển tổ chức của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Trở về nước, đội ngũ cán bộ được huấn luyện tại các lớp học đầu tiên - những "hạt giống đỏ" cho phong trào cách mạng Việt Nam và cho Đảng, đã ngày càng trưởng thành trong đấu tranh cách mạng.
Tiếp tục phương thức đào luyện cách mạng trong môi trường thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc, vào năm 1928, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chủ trương "vô sản hóa", tuyên truyền vận động cách mạng, nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân. Phong trào công nhân càng phát triển mạnh, đặc biệt tại các trung tâm kinh tế, chính trị trở thành nòng cốt của phong trào dân tộc trong cả nước. Kế tiếp đó, đã nhen nhóm lớp lớp thanh niên cách mạng ngày càng đông đảo trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, để cùng với sự truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm, phương pháp cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, lần lượt các tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời: An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Trên cơ sở đó, trước đòi hỏi của lịch sử cách mạng, mùa xuân năm 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thống nhất làm một và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
[1],5 Hồ Chí Minh: Tiểu sử, Nxb LLCT, Hà Nội, 2006, tr.157, 164
2 Louis Marty: Contribution à l’ histoire des mouvements politiques de L’Indochine Francaise. 1993, t.4, p.15
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2011, tập 2, tr.152
4 Đồng chí Lê Mạnh Trinh - học viên khóa 3, trong Hồi ký Những ngày ở Quảng Châu và Xiêm, đã kể lại việc mở lớp: “Địa điểm lớp học đối diện với Hội quán của Tổng Nông hội, cách nhau một quảng trường. Ở đây vừa là Hội quán vừa là ký túc xá của lớp huấn luyện cán bộ Nông vận tỉnh Quảng Đông. Hàng ngày chúng tôi cũng sang đó ăn cơm ở đó. Ngoài cửa lớp học, treo một biển có chữ lớn “Đặc biệt chính trị huấn luyện ban”.
6 Theo Phạm Xanh trong cuốn: Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam (1921-1930), Nxb Thông tin lý luận, H.1990, thì còn có hai địa điểm khác nữa: 35 Nhân Hưng Cao (Quảng Châu) và Bản Đáy, gần biên giới Việt – Trung.
7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.238.
8 Tham dự khoá hai có các đồng chí: Trần Phú, Nguyễn Ngọc Ba, Phan Trọng Bình, Phan Trọng Quảng, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Công Thu, Nguyễn Danh Thọ, Nguyễn Văn Khang, Nguyên Văn Đắc, Nguyễn Danh Tế, Nguyễn Lương Bằng, Lê Thiết Hùng, một số khác từ Xiêm sang như Lý Thế Hanh (Võ Tùng), Lam Giang (Nguyễn Sinh Thản), Canh Tân (Đặng Thái Thuyến), v.v... Phạm Văn Đồng cũng sang dịp này, nhưng bị ốm, nên vào học khoá sau. Khoá ba cuối năm 1926, tham dự có Trần Văn Cung (Quốc Anh), Cẩm (Nguyễn Đình Từ), Ngọ (Phan Đăng Đệ), Quốc Hoa (Võ Mai), Dương Hạc Đính, Hưng Nam, Phi Vân, Lạc Long, Ngô Việt, Thanh Tân, Điền Hải, Lê Duy Nghệ (anh em với Lê Duy Điếm), Nguyễn Danh Đới, Vũ Trọng, Nguyễn Tường Loan...
9 Theo Lê Mạnh Trinh: Hồi ký Những ngày ở Quảng Châu và Xiêm, tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh
10 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2011, tập 2, tr.261
11 Dẫn theo: Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (1924 - 1927), NxbCTQG, H.1998, tr. 67-69
12 Diễn thuyết phải tuân theo 6 yêu cầu: 1- Sử dụng ngôn ngữ thích hợp với đối tượng; 2- Phải chọn cách thức thu hút người nghe, biết dẫn dắt người nghe; 3- Nội dung diễn thuyết dế hiểu; 4- Bài diễn thuyết phải thích hợp với hoàn cảnh; 5- Phải có những chứng cớ, ví dụ rõ ràng; 6- Trong mọi hoàn cảnh, diễn giả phải trung thực, không xuyên tạc.
13 Cảm nhận của học viên khóa 2 Nguyễn Công Thu, trong hồi ký Đi theo con đường cách mạng, tài liệu đánh máy lưu trữ của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình.
14 Riêng Lê Hồng Phong được gửi tới Lêningrát (Liên Xô) học về không quân.
15 Hồ Tùng Mậu là một trong những người được Nguyễn Ái Quốc phái đi để thực hiện sứ mệnh này. Năm 1926 Lê Hồng Sơn cùng với Hồ Tùng Mậu được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, qua đó, tăng thêm sợi dây gắn kết giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Trung Quốc và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả.
16 A.I. Trêrêpanốp: Ghi chép của một cố vấn quân sự Trung Quốc, M.1976, tr.123.
17 Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh tinh hoa và khí phách của dân tộc, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2012, tr.549-550.