TS LÂM THỊ KHO
Học viện Chính trị khu vực IV
Hồ Chí Minh là hiện thân của văn hóa hòa bình, được biểu hiện đầy đủ và sâu sắc nhất từ tư tưởng đến hành động của chính Người. Văn hóa hòa bình , Hồ Chí Minh có giá trị trường tồn, cả trong hiện tại và tương lai.
1. Văn hóa hòa bình và những biểu hiện của văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh
Hòa bình là trạng thái không có chiến tranh, xung đột vũ trang hay bạo lực; đồng thời còn bao hàm sự ổn định, công bằng, hợp tác và phát triển giữa các cá nhân, cộng đồng, các quốc gia. Văn hóa hòa bình là tập hợp các giá trị, thái độ, hành vi và lối sống giúp con người từ bỏ bạo lực, giải quyết mọi bất đồng tranh chấp bằng thương lượng, đối thoại, thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia, hợp tác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau bình đẳng cùng có lợi và hợp tác vì lợi ích chung.
Văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là hệ giá trị, tư tưởng và phương thức hành động hướng tới hòa bình, độc lập, công lý, được xây dựng trên nền tảng nhân ái, khoan dung, tôn trọng con người, giải quyết xung đột bằng đối thoại, đoàn kết, hợp tác và hữu nghị giữa các dân tộc vì sự phát triển bền vững của nhân loại. Văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là một bộ phận cốt lõi trong di sản của Người, mang đậm dấu ấn tư tưởng, đạo đức, phương pháp cách mạng, phong cách Hồ Chí Minh, được kết tinh từ truyền thống yêu chuộng hòa bình, tư tưởng nhân văn, hòa hiếu, nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam, đồng thời được chắc lọc và kế thừa từ tư tưởng dân chủ, nhân văn, tiến bộ của nhân loại, được vận dụng, phát triển lên một tầm cao mới trong thời đại mới.
Trong bối cảnh thế giới hiện đại đang đối mặt với nhiều thách thức: xung đột vũ trang, phân cực chính trị, khủng hoảng đạo đức, biến đổi khí hậu, các vấn đề về an ninh phi truyền thống…, tư tưởng văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị thời sự, thời đại và là những chỉ dẫn có ý nghĩa định hướng mang tính chiến lược.
Sinh thời, Hồ Chí Minh thấy rõ được sự chuyển biến của thời đại sẽ làm thay đổi quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi toàn cầu. Theo Người, việc đấu tranh thiết lập quan hệ bình đẳng giữa các dân tộc, chống lại mọi sự áp đặt, thống trị của các “nước lớn”, xóa bỏ mọi sự bất công đem lại quyền tự do, tự quyết cho các dân tộc là một “lẽ phải”. Khi cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam giành được những thắng lợi, chủ nghĩa thực dân bị xóa bỏ trên phạm vi toàn thế giới, các dân tộc đươc hưởng quyền độc lập, tự do thực sự cũng là điều kiện mở ra một thời đại mới, thời đại của tiến bộ khoa học kỹ thuật với những phát minh vĩ đại đem lại sự thay đổi chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Trong Bài nói tại buổi lễ bế mạc lớp Chỉnh huấn cán bộ trí thức, ngày 26/9/1953, Hồ Chí Minh tổng kết rằng: “Chúng ta có vinh dự sống trong một thời đại rất to lớn, sự vật thay đổi và phát triển rất mau chóng. Trong khoảng mấy mươi năm nay, chúng ta đã thấy bao nhiêu phát minh mới mẻ như vô tuyến điện, vô tuyến truyền hình, sức nguyên tử, v.v. Người đã chinh phục nhiều lực lượng thiên nhiên để phục vụ cho loài người. Nhưng phát minh vĩ đại nhất và phát triển nhanh chóng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin”1. Đối với nhân dân Việt Nam, với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, “kết quả ấy cũng vì có chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng con đường cách mạng của chúng ta”. Trong bài trả lời phỏng vấn một Tạp chí (Cananđa) tháng 12-1965, Hồ Chí Minh đã nói: Thời đại này là thời đại chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, để xây dựng một thế giới hòa bình, hữu nghị, dân chủ và tiến bộ xã hội”2. Thời đại mới của chúng ta là một thời đại vẻ vang, thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của độc lập dân tộc, của hoà bình, dân chủ. Với việc nhận thức đúng đặc điểm và xu thế của thời đại, hiểu biết sâu sắc về thời đại Hồ Chí Minh đã nhận diện và giải quyết thành công vấn đề dân tộc và kết hợp và cách mạng Việt Nam trong thời hiện đại, mở ra thời đại của “hòa bình, hữu nghị, dân chủ và tiến bộ xã hội” trên thế giới.
Chính vì thế, văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh mang đậm dấu ấn của văn hóa dân tộc, đó là văn hóa hòa bình, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển giữa các dân tộc, đồng thời luôn hướng đến các giá trị phổ quát của nhân loại về xây dựng thế giới hòa bình, hữu nghị, dân chủ, tiến bộ, tất cả vì sự tiến bộ của con người.
Văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh có thể khái quát ở các nội dung sau:
- Hòa bình: lợi ích chính đáng của tất cả các dân tộc.
Hồ Chí Minh luôn mong muốn và nỗ lực đấu tranh cho hòa bình trên thế giới được bền vững, “Mà giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí”3. Theo Người, ai làm gì mang lại lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc Việt Nam thì đều là bạn của Việt Nam. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc Việt Nam đều là kẻ thù... Phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn bởi lẽ “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới”4.
Ngoài ra, theo Hồ Chí Minh, đấu tranh giải phóng cho dân tộc mình cũng là đấu tranh cho giải phóng các dân tộc khác, giải phóng dân tộc để giải phóng xã hội và giải phóng con người. Hồ Chí Minh cho rằng, một người dân mất nước, bị nô lệ thì giá trị tinh thần lớn nhất theo đuổi cả đời đó chính là “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. Hồ Chí Minh từng làm những nghề lao động khác nhau và thấu hiểu nỗi cực nhọc, bất công người lao động phải gánh chịu, thấu cảm sâu sắc cảnh tù đày lao khổ, Người có mối đồng cảm, thương xót đối với số phận của những người dân lao động ở các dân tộc bị áp bức thuộc địa. Vì vậy, xuyên suốt đường lối, chủ trương và hành động cách mạng, Hồ Chí Minh đã kết hợp biện chứng giữa đấu tranh giải phóng dân tộc với đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng những người bị áp bức khỏi các lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương, bác ái và giải phóng con người thoát khỏi bất công áp bức, có cuộc sống tự do, hạnh phúc.
- Hòa bình gắn liền với công lý và độc lâp, tự do. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ tinh thần yêu chuộng hòa bình. Theo quan điểm Hồ Chí Minh, hòa bình không phải là thứ hòa bình giả hiệu, mà là hòa bình gắn với độc lập dân tộc và công bằng xã hội, hòa bình chân chính trong độc lập, tự do mà tất cả mọi người trên trái đất này đều được hưởng. Trong “Tuyên ngôn độc lập” năm 1945 của Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”5. Trong “Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương”, Người chỉ rõ: “Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do (...) Nhưng chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi cũng phải được phép yêu đồng bào chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi”6. Một nền hoà bình chân chính phải được xây trên nền tảng của công lý và lý tưởng dân chủ. Hòa bình phải thay cho chiến tranh, và những giá trị của tự do, bình đẳng, bác ái phải thực hiện với tất cả dân tộc không phân biệt chủng tộc và màu da. Hồ Chí Minh tuyên bố rằng: “Chúng tôi là một dân tộc ưa hoà bình, trọng quyền lợi và tự do của người khác”7. Hòa bình không có nghĩa là đầu hàng, nhân nhượng trong những vấn đề thuộc về nguyên tắc. Dân tộc Việt Nam rất yêu hòa bình, tuy nhiên, nếu hòa bình bị đe dọa hoặc bị tước đoạt thì bắt buộc nhân dân phải chiến đấu để bảo vệ đến cùng. Bởi vì, hòa bình không thể dựa trên sự chèn ép, áp bức hay sự ban phát của kẻ mạnh, mà phải xuất phát từ công lý và “lẽ phải” không thể phủ nhận. Trong những năm chống Mỹ xâm lược, Hồ Chí Minh tuyên bố với bạn bè các nước rằng: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi phải kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược để tự vệ, để bảo vệ những quyền dân tộc thiêng liêng nhất của mình, đồng thời góp phần giữ gìn hòa bình ở châu Á và thế giới”8. Với Hồ Chí Minh, hòa bình phải đi liền với độc lập, tự do và quyền tự quyết của dân tộc - Sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.
Hòa bình gắn với đề cao những giá trị tốt đẹp của con người: lòng vị tha, nhân ái, khoan dung dân tộc.
Xuyên suốt trong tư tưởng và hành động, Hồ Chí Minh nhất quán xem con người là trung tâm của sự nghiệp cách mạng, không phân biệt màu da, tín ngưỡng, địa vị hay dân tộc. Người luôn có niềm tin vào điều thiện trong mỗi con người: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”9. Trong tư tưởng và mọi hoạt động đối ngoại với các nước, Hồ Chí Minh luôn thấm nhuần đạo lý của cha ông “Lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”. Chúng ta bất khuất, kiên cường chống chiến tranh xâm lược nhưng luôn mở cánh cửa cho quân viễn chinh rút khỏi Việt Nam. Từ quan điểm đó, Người luôn thể hiện lòng khoan dung với người lầm lỗi nhưng biết hối cải, kể cả khoan dung với kẻ thù. Các bức thư Người gửi cho binh lính Pháp, lính Mỹ đều thể hiện sự cảm thông, không khơi dậy hận thù, thấm đượm tinh thần nhân văn, nhân đạo
Hồ Chí Minh khẳng định, dân tộc Việt Nam là dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái. Hồ Chí Minh luôn trân trọng các giá trị văn hóa của nhân loại, mong muốn đối thoại, giao lưu bình đẳng để đạt đến sự hòa đồng và phát triển vì thế giới hòa bình. Với tấm lòng nhân ái, khoan dung, Người tìm thấy những điểm tương đồng của các dân tộc, đó là: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”10. Trong “Thư trả lời bà Sốtxi trong Hội liên hiệp phụ nữ Pháp”, ngày 22-9-1946, Hồ Chí Minh cho rằng: “Người Việt Nam và người Pháp chúng ta cùng theo đuổi một lý tưởng giống nhau: Tự do - Bình đẳng - Bác ái” và Người cũng khẳng định: “Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau”11.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh tư tưởng khoan dung thể hiện ở nhiều lát cắt khác nhau: Khoan dung với đồng bào, Người chủ trương hòa hợp dân tộc, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đảng phái; Khoan dung với quá khứ, Người kêu gọi bỏ qua hận thù, xóa bỏ định kiến, đối với những người từng lầm lỗi thì phải có thái độ khoan hồng; Khoan dung với kẻ thù, Người chủ trương vì độc lập, vì tự do “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”; Khoan dung trong đối ngoại, Người chủ trương “làm bạn với tất cả các nước dân chủ” và xây dựng quan hệ hòa bình, hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau. Khoan dung không chỉ là đức tính cá nhân mà trở thành nền tảng, cơ sở hình thành văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, khoan dung, nhân ái và đoàn kết là con đường duy nhất để kiến tạo một nền hòa bình bền vững.
2. Hồ Chí Minh biểu tượng của ý chí và quyết tâm giành, giữ
hòa bình
Suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh theo đuổi lý tưởng hữu ái, đoàn kết, hòa bình, thân thiện giữa các dân tộc và người đã trở thành biểu tượng sáng ngời của tinh thần quốc tế trong sáng. Hồ Chí Minh được tổ chức UNESCO tôn vinh là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, điều này khẳng định “những tư tưởng của Người là hiện thân những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Từ đó, chúng ta có thể khẳng định: Hồ Chí Minh là hiện thân rực rỡ của văn hóa hòa bình - văn hóa của thời đại mới của chúng ta.
Xuất phát từ tình yêu thương đối với con người, quý trọng sinh mạng và phẩm giá của con người, Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách ngăn chặn xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc (1945-1975), Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, đưa ra nhiều sáng kiến bảo vệ hòa bình, đồng thời đẩy mạnh hoạt động ngoại giao kêu gọi nhân dân thế giới ủng hộ nền hòa bình.
Hồ Chí Minh mở đầu sự nghiệp chính trị của mình bằng một hành động thể hiện khát vọng hòa bình. Năm 1919 Người gửi Yêu sách 8 điểm đến Hội nghị Versailles đòi quyền tự, do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân nước mình. Tuy nhiên, bản Yêu sách 8 điểm đó không được các nước để tâm đến, từ đó Người rút ra kết luận: Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào chính mình.
Khi các giải pháp hòa bình đã không mang lại thắng lợi hoàn toàn cho cách mạng Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, trong cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. Tuy nhiên, tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với tư tưởng hòa bình chân chính. Trong thực tế, khi ứng phó với các kế hoạch chiến tranh của kẻ thù, Người luôn ưu tiên giải pháp đối thoại hơn đối đầu, kết hợp giữa cứng rắn về nguyên tắc và mềm dẻo về sách lược và phương pháp, vừa đánh, vừa đàm để kết thúc chiến tranh. Cụ thể, trước khi lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945, Hồ Chí Minh đã hai lần đưa ra đề nghị 5 điểm gửi đến chính phủ Pháp, qua người đứng đầu cơ quan tình báo của họ ở Côn Minh là J.Sainteny (một lần vào 7-1945 và một lần khác vào 18-8-1945) và sau khi Việt Nam đã giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã gửi thư đến ông J.Sainteny - Ủy viên cộng hòa Pháp, ngày 24-2-1947. Những bức thư của Hồ Chí Minh đều gửi đi thông điệp tìm giải pháp hòa bình cho Việt Nam và nước Pháp. Người kêu gọi: “Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam, lập tức những cuộc xung đột sẽ ngừng, hoà bình và niềm tin cậy lẫn nhau sẽ trở lại, chúng ta sẽ lại có thể bắt tay vào công việc xây dựng lại vì lợi ích chung của hai nước chúng ta. Về phần tôi, tôi sẵn sàng cộng tác vì hoà bình, một nền hoà bình chính đáng và danh dự cho hai nước chúng ta. Tôi mong rằng, về phía ông, ông cũng sẽ làm việc theo hướng đó”12.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với mong muốn xây dựng nền hòa bình bền vững. Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều cách thức nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ, bảo vệ nền độc lập, thống nhất của nhân dân Việt Nam. Trong thư trả lời Tổng thống Mỹ R.Níchxơn, ngày 25-8-1969, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hoà bình, một nền hoà bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình”13. Về giải pháp kết thúc cuộc chiến này, Người nhấn mạnh: “Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và của dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài. Đó là cách đúng đắn để giải quyết vấn đề Việt Nam phù hợp với quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam, với lợi ích của nước Mỹ và nguyện vọng hoà bình của nhân dân thế giới”14. Có thể nói, với những đề nghị mang tính giải pháp của Hồ Chí Minh đã mở ra con đường để đế quốc Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự, một nét đặc sắc trong văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh rất thiết tha với hòa bình, luôn khát khao vươn tới kiến tạo một thế giới hòa bình, ở đó, mối quan hệ giữa con người với con người là anh em, bạn bè, đồng chí. Hồ Chí Minh vừa là nhà cách mạng thiên tài, vừa là kiến trúc sư kiến tạo văn hóa hòa bình của nhân loại, Người còn là hiện thân rõ nhất của văn hóa hòa bình với một cách tiếp cận hòa bình vừa thực tế vừa nhân văn, vừa dân tộc vừa quốc tế.
Giá trị của văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh trong hiện tại và tương lai
Trong giai đoạn hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song thế giới đang đứng trước những diến biến phức tạp, nhanh chóng, rất khó đoán định, đặt ra yêu cầu, thách thức mới đối với nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành ngày càng rõ nét hơn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện. Xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp. Các điểm nóng về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng, tác động đến hòa bình, an ninh và phát triển của thế giới. Trong nước, sau 40 năm đổi mới đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, cơ đồ, vị thế, tiềm lực và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng nâng cao. Tuy nhiên, đất nước đang đứng trước những khó khăn, thử thách, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định, như nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên,…Tình hình trên cho thấy, việc giữ gìn hòa bình, bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không chỉ là nhiệm vụ chiến lược trọng yếu, thường xuyên mà còn là yêu cầu cấp thiết, thách thức lớn đối với nước ta. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứu XIII của Đảng khẳng định: “Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định… là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới”15. Quán triệt sâu sắc, vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hòa bình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước đã, đang tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, tạo sự ổn định để phát triển bền vững đất nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định trong khu vực, thế giới.
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, thực tiễn của cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa hòa bình khẳng định giá trị sâu sắc, phản ánh những vấn đề thời sự của thời đại ngày nay. Trong hiện tại, thế giới chứng kiến sự gia tăng của các hiện tượng tiêu cực: chiến tranh, cực đoan hóa xã hội, phân cực chính trị và suy thoái đạo đức. Trong bối cảnh đó, tư tưởng văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh đề cao các giá trị:
Thứ nhất, tinh thần nhân ái, khoan dung luôn là trục xoay trong ứng xử giữa con người với con người và giữa các dân tộc. Trên cơ sở tôn trọng phẩm giá và các quyền cơ bản của con người, quyền của các dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh giúp kiến tạo một thế giới hòa bình, đề cao các giá trị mang tính phổ quát: nhân ái, khoan dung, yêu thương tôn trọng con người, vì con người. Giá trị này có thể được vận dụng giáo dục và truyền thông giúp lan tỏa, hình thành nhân cách thế hệ trẻ, phòng chống bạo lực, khủng hoảng tinh thần và xu hướng cực đoan hóa trong xã hội hiện nay.
Thứ hai, đối với Việt Nam, văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là nền tảng định hướng chính sách đối nội và đối ngoại, định hướng chiến lược ngoại giao của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Về đối nội: Gắn hòa bình với độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, tức là không có hòa bình thật sự nếu còn bất công xã hội. Về đối ngoại: thực hiện nguyên tắc ngoại giao “độc lập - tự chủ - hòa bình - hợp tác - phát triển”, nhất quán lập trường tôn trọng chủ quyền, luật pháp quốc tế, và giải quyết tranh chấp bằng hòa bình, giữ vững và kiên định về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược. Thực hiện những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh được nêu ra từ năm 1944, “Chúng ta phải xây dựng Việt Nam thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Thành công ấy đã được khẳng định bởi vì đó là sức mạnh của nhân dân, là yêu cầu của thời đại, vì vậy không một dòng nước ngược nào có thể ngăn cản được nó”16.
Thứ ba, khẳng định hòa bình không phải là sự ban phát hay sự nhận lấy thụ động, mà là một quá trình kiến tạo không ngừng hướng đến một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hòa bình, độc lập, dân chủ, tiến bộ xã hội. Thế kỷ XXI chứng kiến sự gia tăng của “những cuộc chiến không có chiến trường”, chiến tranh kinh tế, chiến tranh mạng, chiến tranh tâm lý và các dạng xung đột phi truyền thống… Trong bối cảnh đó, văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh là một định hướng mang tính toàn diện, khoa học và nhân văn cho nhân loại. Văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh đặt nền tảng phát triển xã hội không chỉ trên lợi ích mà còn dựa trên lẽ phải, trách nhiệm và nhân phẩm của con người; gợi mở mô hình phát triển cân bằng giữa quyền lực - đạo lý - trách nhiệm toàn cầu; gợi mở một mô hình hòa bình nhân văn và phát triển bền vững.
Văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh không chỉ là di sản tinh thần của dân tộc Việt Nam mà còn là tài sản giá trị của nhân loại trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Trong hiện tại, đó là nền tảng tư tưởng giúp định hình xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển bền vững. Trong tương lai, đó là kim chỉ nam giúp nhân loại vượt qua khủng hoảng, thiết lập mô hình phát triển bền vững - lấy công lý, nhân đạo và đối thoại làm trọng tâm. Thế giới đã và đang thực hiện những chỉ dẫn của văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh. Đúng như Cố Thủ tướng Ấn Độ J.Nêru đã khẳng định: “Thế giới ngày nay đang trải qua một cuộc khủng hoảng, khủng hoảng về tâm lý. Cái cần bây giờ là tiếp cận hòa bình, hữu nghị và tình bạn. Tiến sĩ Hồ là biểu hiện cho sự tiếp cận đó”17./.
1, 7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 14, tr. 701, 662.
2, 3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 8, tr. 299, 273, 273
4, 5, 6, 9, 10 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.1, 75, 77, 397, 348
8, 11Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 672, 79
12, 13 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr. 602, 603
14 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb CTQGST, H. 2021, tr. 108.
15 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 3, tr.494- 495.
16 Xem: Dương Trung Quốc, Đào Hùng (Chủ biên) (2005), Hồ Chí Minh hiện thân của văn hóa hòa bình, Tạp chí xưa và nay, Nxb. Văn hóa Sài Gòn, 2005.