PGS. TS. LÊ VĂN TÍCH
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

Xuất phát từ điều kiện thực tiễn dân tộc cũng như bao người Việt Nam yêu nước Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn có một khát khao cháy bỏng giành độc lập cho dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Khát vọng về một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh đã từng bước được Người hiện thực hóa; là cơ sở cho đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Việt Nam nằm giữa giao điểm của con đường giao lưu kinh tế, văn hoá Đông - Tây và Nam - Bắc. Vì vậy, từ rất sớm, hương liệu, tơ lụa và lúa gạo Việt Nam đã được thương gia nhiều quốc gia Âu, Á biết đến. Đồng thời, dân cư Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của kinh tế, văn hoá các nước này. Trong đó, trước hết là của Trung Quốc - quốc gia láng giềng phương Bắc, rồi Ấn Độ, Nhật Bản, Pháp... Trong quá trình giao lưu ấy, như một quy luật phổ biến, Việt Nam luôn luôn đấu tranh chống lại sự xâm lược và chia cắt của các thế lực cường quyền. 

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, chống ngoại xâm không phải là đặc điểm riêng của một quốc gia nào, nhưng thật hiếm có dân tộc nào phải thường xuyên đấu tranh chống lại nhiều kẻ thù mạnh để bảo vệ đất nước như dân tộc Việt Nam. Lịch sử chống giặc ngoại xâm và chấn hưng đất nước đã trở thành một phần quan trọng trong toàn bộ lịch sử dân tộc Việt Nam.

1. Hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước không chỉ là ước mơ, khát vọng ngàn đời của mỗi người dân Việt, mà còn là yêu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển đất nước. Vì sự nghiệp hòa bình, độc lập và thống nhất Việt Nam mà lớp lớp cha anh đã chiến đấu, hy sinh. Tuy nhiên vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX giai cấp phong kiến Việt Nam và hệ tư tưởng của nó đã hoàn toàn bất lực trước sự xâm chiếm của thực dân Pháp. Sang đầu thế kỷ XX, một số sĩ phu yêu nước tiến bộ, như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã một lần nữa tổ chức đấu tranh cho nền hòa bình, độc lập của Tổ quốc. Một số cấp tiến hơn, vượt qua hệ ý thức phong kiến, tổ chức ra Việt Nam Quốc dân Đảng. Nhưng do sự lạc hậu của ý thức hệ và sai lầm về phương pháp đấu tranh mà họ cũng nhanh chóng thất bại trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái đầu năm 1930.

Vậy phải làm cách nào, đi con đường nào để khôi phục nền độc lập dân tộc,  đưa Việt Nam vào quỹ đạo phát triển của thời đại? Vấn đề đặt ra như “bài toán thế kỷ” mà chưa có lời giải.

Sinh ra và lớn lên trong cảnh “nước mất nhà tan”, Nguyễn Ái Quốc sớm nuôi hoài bão tìm đường cứu nước, cứu đồng bào. Người “khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào”1. Sự khởi đầu trên đây là sự vượt qua những lối mòn để khẳng định một bản lĩnh cách mạng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trên con đường đấu tranh giành độc lập và phát triển cho Việt Nam.

Giữa năm 1911, Nguyễn Ái Quốc đã sang châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, sang Anh rồi trở lại Pháp ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc hoạt động tích cực trong phong trào công nhân, có quan hệ chặt chẽ với  những người yêu nước Việt Nam, với đại biểu các thuộc địa Pháp... Người tham gia Đảng Xã hội Pháp, rồi tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Mục đích của những hoạt động này đã được Người trả lời thẳng thắn với Bộ trưởng thuộc địa Anbe Xarô2 ngay tại Pari là: “Cái mà tôi cần trên đời này là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập...”3. Còn đối với đồng bào, đồng chí, Nguyễn Ái Quốc có sức cuốn hút đặc biệt và trở thành người đại diện cho họ trong việc gửi yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Vécxay (1919). Nhà ái quốc Phan Châu Trinh thuộc lớp cha chú có nhiều năm sống trên đất Pháp lúc đầu chỉ biết những hoạt động “bề nổi” của Nguyễn Ái Quốc đã tỏ ra hoài nghi về đường lối cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, nhưng sau đó lại nhận xét rằng: “Anh như cây đương lộc, nghị lực có thừa, lý thuyết tinh thông... Tôi tin chắc rằng, cái chủ nghĩa mà anh tôn thờ (tức chủ nghĩa Mác-Lênin - TG) chẳng bao lâu sẽ sâu rễ bền gốc trong dân tình, chí sĩ nước ta”. Sau khi lâm bệnh từ Pari về Sài Gòn, trước khi qua đời, cụ Phan còn dặn lại học trò, bạn hữu: “Độc lập của Việt Nam ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc”. Còn nhà ái quốc Phan Bội Châu - người cùng thế hệ với cụ Nguyễn Sinh Sắc lại bị Nguyễn Ái Quốc thuyết phục ngay từ cuộc gặp tại Quảng Châu cuối năm 1924. Đoạn trích thư Nguyễn Ái Quốc gửi Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản sau đây chỉ rõ sự thiếu hụt trong trong phương pháp cách mạng của Phan Bội Châu và niềm tin giải phóng của cụ gửi gắm vào Nguyễn Ái Quốc: “Ông (tức Phan Bội Châu - TG) không hiểu chính trị, và lại càng không hiểu việc tổ chức quần chúng. Trong các cuộc thảo luận, tôi đã giải thích cho ông hiểu rõ sự cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động không cơ sở, Ông đã đồng ý... Ông đã đưa cho tôi một danh sách 10 người An Nam đã cùng ông hoạt động bấy lâu”4. Sự thừa nhận những bất cập trong đường lối giành độc lập dân tộc của các bậc tiền bối đã diễn ra như sự chuyển giao sứ mạng giải phóng dân tộc từ thế hệ cha ông sang lớp thế hệ sau mà Nguyễn Ái Quốc là người đại diện. Vì rằng chính Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên kết hợp thành công ý chí độc lập, truyền thống đấu tranh của dân tộc với lý luận  Mác-Lênin. Đây là yếu tố quan trọng dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Việt Nam. Đó cũng là ý chí, nguyện vọng của toàn dân tộc, kết thành mục đích cuộc sống, hoá thân vào cuộc sống của Người. Điều này Người đã công khai tuyên bố với các nhà báo nước ngoài, thể hiện khá rõ trong nhiều bài nói, bài viết ngay sau khi nước nhà độc lập: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”5. “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày nhẫn nhục cố gắng - cũng chỉ vì mục đích đó”6. Trải qua hai cuộc kháng chiến, cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời, Hồ Chí Minh vẫn ấp ủ hoài bão về một nước Việt Nam độc lập, hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh...

Để củng cố và duy trì ách thống trị ở Việt Nam, kẻ thù ngoại bang luôn luôn thi hành chính sách “chia để trị”. Vì vậy, mất độc lập cùng với bị chia cắt kéo dài đã làm cho dân tộc Việt Nam chìm sâu trong vòng nô lệ. Cho nên cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc luôn gắn liền với nhiệm vụ đấu tranh chống lại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề độc lập dân tộc luôn luôn gắn liền với vấn đề thống nhất dân tộc. Tư tưởng này phản ảnh rõ quy luật hình thành và phát triển lịch sử dân tộc Việt Nam.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, thực dân Pháp được sự ủng hộ của nhiều thế lực phản động, đã âm mưu tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam hòng lật đổ chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu. Vì vậy, khi Hồ Chí Minh đang trên đường sang Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp thì tại Việt Nam, Đô đốc Đắcgiăngliơ đã nặn ra những cái gọi là “Nam kỳ tự trị”, “Tây kỳ tự trị”, “Liên bang Thái” nhằm chia cắt sự thống nhất của Việt Nam. Kiên quyết chống lại âm mưu ấy, nhiều lần Hồ Chí Minh khẳng định: “Thống nhất đất nước là một yêu cầu tha thiết nhất của toàn dân Việt Nam... là con đường sống của nhân dân Việt Nam”, “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”7, “Trung, Nam, Bắc đều là đất nước Việt Nam. Chúng ta đều chung một tổ tiên dòng họ, đều là ruột thịt anh em. Nước có Trung, Nam, Bắc, cũng như một nhà có ba anh em. Cũng như nước Pháp có vùng Noócmăngđi, Prôvăngxơ, Bôxơ. Không ai có thể chia rẽ con một nhà, không ai có thể chia rẽ nước Pháp, thì cũng không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam ta... Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên... Nam Bộ nhất định trở lại cùng thân ái chung trong lòng Tổ quốc”8.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất dân tộc, tình cảm của Người với đồng bào Nam Bộ đã trở thành lẽ sống, chi phối hoạt động hàng ngày của Người. Đối với kẻ địch, Người vừa đấu tranh kiên quyết, vừa lấy chân lý khách quan, những nguyên tắc đạo đức Đông - Tây, tìm ra những tiếng nói chung nhất như: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác) để thuyết phục, tấn công chúng, làm cho chúng khó chống lại lý tưởng của Người là độc lập dân tộc, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Trong mọi hoàn cảnh, độc lập và thống nhất Việt Nam luôn luôn là nguyên tắc số một chỉ đạo các hoạt động của Hồ Chí Minh. Đó cũng là mục đích chiến đấu suốt đời của Người.

Kháng chiến chống Pháp kết thúc, Chính phủ Pháp đã thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta. Thế nhưng đế quốc Mỹ và bọn tay sai đã lập ra ở miền Nam một chính quyền phản động. Dưới chiêu bài “Việt Nam Cộng hoà”... Mỹ âm mưu biến miền Nam thành đồng minh của chúng. Từ giữa những năm 60, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Nền độc lập tự do của miền Bắc bị đe doạ. Trước mắt những người đại diện cho dân tộc Việt Nam mở ra hai con đường: Hoặc chấp nhận những điều kiện “hoà bình”, “độc lập” giả hiệu hoặc chấp nhận chiến đấu sống mái với kẻ thù để bảo vệ độc lập, thống nhất Việt Nam. Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm, chủ quyền dân tộc: “Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do!”. Ở đây, chúng ta thấy rõ tầm cao chiến lược của Hồ Chí Minh trong quyết định đương đầu với kẻ thù hùng mạnh của thời đại: đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Trước khi Hồ Chí Minh đi xa, mới chỉ có miền Bắc được độc lập tự do, nhưng tư tưởng của Người về một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh đã được Người khẳng định nhiều lần và đã tạo lập thành công những tiền đề vững chắc để chúng ta “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giành thắng lợi trọn vẹn vào mùa xuân năm 1975. Với chiến thắng lịch sử này Việt Nam trở thành tấm gương sáng của ý chí độc lập, thống nhất dân tộc, tạo cơ sở tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh đã thực sự là hiện thân của ý chí ấy. Hồ Chí Minh trở thành “người anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam”, “người thầy đấu tranh giành độc lập dân tộc”.

2. Trong cuộc hành trình tìm đường giành lại độc lập và thống nhất cho Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đến nước Pháp - nơi đề xướng lý tưởng “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, qua nước Mỹ - quốc gia châu Mỹ có Bản Tuyên ngon độc lập bất hủ (1776), tuyên bố quyền bình đẳng của con người, của các dân tộc!

Điểm gặp gỡ của tư tưởng Hồ Chí Minh với tư tưởng của hai bản Tuyên ngôn được ra đời do kết quả của cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Bắc Mỹ và cuộc đại cách mạng Pháp 1789 là nhân quyền và hạnh phúc cho con người và quyền độc lập, bình đẳng cho các dân tộc. Đó là những quyền thiêng liêng mà dân tộc Việt Nam và nhiều dân tộc trên thế giới đang bị bọn đế quốc tước mất. Mặt khác, Hồ Chí Minh cũng sớm thấy cả những nghịch lý, những mâu thuẫn giữa những lý tưởng tốt đẹp ghi trong các Tuyên ngôn với thực tế áp bức giai cấp ở nhiều nơi Người đã qua. Người căm phẫn bọn 3K hành hạ người da đen theo kiểu Lynch ngay trước tượng thần Tự do ở nước Mỹ. Người thấy rõ cảnh đời trái ngược, mâu thuẫn giàu nghèo ở ngay tại Paris tráng lệ. Giai cấp tư sản Mỹ vẫn mở rộng xâm lược chiếm thuộc địa. Quyền độc lập và thống nhất Việt Nam đang bị bọn thực dân Pháp chà đạp. Nhân quyền cho con người, độc lập thống nhất cho các dân tộc vẫn chỉ là những giấc mơ, đang còn đóng khung trên các trang giấy của các bản Tuyên ngôn .

Trên con đường tìm kiếm những quyền thiêng liêng ấy trên thực tế, Hồ Chí Minh đã bắt gặp Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Ở đó, Người tìm thấy những lời giải đáp quan trọng về cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp giải phóng con người. Hơn thế, Người đã trực tiếp tham gia vào những phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế, tích cực hoạt động trong Quốc tế Cộng sản vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng các dân tộc bị áp bức, vì nền độc lập cho Việt Nam.

Qua thực tế khảo sát hàng chục thuộc địa ở châu Phi, châu Mỹ và được tư tưởng Lênin soi rọi, Hồ Chí Minh đã hình thành những quan điểm rất sáng tạo về vị trí, vai trò cách mạng thuộc địa. Những báo cáo trình bày trước Đại hội V Quốc tế Cộng sản và nhiều bài viết của Hồ Chí Minh đăng trên tạp chí Thư tín quốc tế... lý giải rất khoa học “sức sống” của chủ nghĩa thực dân đang nằm ở các thuộc địa. Vì vậy, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa sẽ ngăn chặn nguồn cung cấp nguyên liệu, binh lính tiến đến làm suy sụp sức sống của chủ nghĩa đế quốc. Từ đó, Người vạch rõ mối quan hệ biện chứng giữa cuộc cách mạng giải phóng thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc. Theo Người, trong điều kiện nhất định, cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Với luận điểm này, Hồ Chí Minh vượt trên cả hai xu hướng “hữu khuynh” và “tả khuynh” biệt phái về vấn đề giải phóng dân tộc. Thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chứng minh sự đúng đắn của quan điểm này.

Không chỉ đấu tranh trên phương diện lý luận, Hồ Chí Minh còn trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh bảo vệ quyền độc lập của nhiều dân tộc khác. Tại Đại hội II Quốc dân đảng (Trung Quốc, tháng 1-1926), Người đã phát biểu  chống lại sự áp bức dân tộc của bọn đế quốc và đoàn kết với nhân dân các nước đang đấu tranh đòi độc lập dân tộc. Người nói: “Chủ nghĩa đế quốc rất không thích thú về ý thức dân tộc của nhân dân bị áp bức. Chúng ta đều biết rằng hiện nay các dân tộc bị áp bức trên thế giới có nhiều nước như Ai Cập, Marốc, Xyry, Việt Nam và Trung Quốc... Cho nên chúng ta cần phải liên hiệp lại, cùng chống chủ nghĩa đế quốc”.

Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, Hồ Chí Minh đã tuyên bố đứng về phía các lực lượng Đồng minh để bảo vệ nền độc lập cho các dân tộc. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Người công khai tuyên bố: Đứng về phía Chính phủ Pháp kháng chiến chống phát xít, vì sự nghiệp độc lập và thống nhất của dân tộc Pháp. Đồng thời, Người lên án bọn thực dân âm mưu nô dịch và chia cắt Việt Nam. Quá trình hình thành tư tưởng độc lập và thống nhất Việt Nam của Hồ Chí Minh từ khi Người ra đi tìm đường cứu nước, đến khi thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quá trình phát triển đi lên: Từ chủ nghĩa yêu nước đến tiếp thu và sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Ở Người, mục đích độc lập và thống nhất dân tộc cho Việt Nam gắn chặt với mơ ước độc lập và thống nhất cho các dân tộc khác, cho toàn nhân loại. Trong tư tưởng và hành động của Người không có chỗ cho những quan điểm sô vanh hay hẹp hòi, nô dịch dân tộc. Thay vào đó là quan điểm độc lập, thống nhất, hạnh phúc cho mỗi dân tộc; hoà bình hữu nghị giữa các dân tộc. Đó là kết tinh truyền thống độc lập tự do của dân tộc Việt Nam với những giá trị của cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của toàn nhân loại.

3. Sự gắn bó hữu cơ và phát triển biện chứng giữa độc lập và thống nhất với chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là tư tưởng lớn, nhất quán của Hồ Chí Minh. Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Thật vậy, ngay từ đầu những năm 20 thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã tiên đoán: sự thâm nhập của chủ nghĩa cộng sản vào châu Á còn dễ dàng hơn ở châu Âu. Từ giữa những năm 20 của thế kỷ trước, Người đã khẳng định: Chỉ có cách mạng Nga mới mang lại độc lập thực sự và cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Đầu năm 1930, Hồ Chí Minh ghi rõ tôn chỉ của Đảng Cộng sản Việt Nam là “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”9. Từ đó, Đảng ta đứng đầu là Hồ Chí Minh có nhiều sáng tạo trong việc thực hiện lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Hồ Chí Minh ít có những bài viết, bài nói riêng về chủ nghĩa xã hội, nhưng sẽ không khó khăn thấy rõ những quan điểm về chủ nghĩa xã hội trong các bài viết cũng như trong hoạt động thực tiễn của Người. Điều đáng lưu ý ở đây là những quan điểm về chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh rất nhất quán, luôn luôn diễn tả được bản chất của chủ nghĩa xã hội nhưng theo cách diễn đạt riêng của Người. Hồ Chí Minh tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước bạn, song Người chỉ đưa vào Việt Nam những gì cần cho đất nước, con người Việt Nam. Còn những gì khác biệt, không phù hợp với tình hình cụ thể của Việt Nam thì Người không phủ nhận. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh tiếp thu nhiều kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc nhưng ít bị ảnh hưởng bởi “tinh thần nội chiến” của họ. Trong thời kỳ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán, có lịch sử địa lý khác... Đại hội đã chỉ ra (Đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô - TG) cho ta thấy ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội ”10. Hồ Chí Minh ít trích dẫn nguyên văn ý kiến của người khác; vì theo Người: điều cốt yếu là hiểu đúng tinh thần và vận dụng những nguyên lý sao cho sát với tình hình cụ thể. Trong khi vạch ra con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa xã hội - một xã hội “dân giàu nước mạnh”, Hồ Chí Minh đồng thời cũng chỉ ra: “chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần... Tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể làm một sớm một chiều”11.

Nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh là tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sự kết tinh giữa ý chí độc lập thống nhất của toàn dân tộc với những chân giá trị, những kinh nghiệm đấu tranh vì độc lập tự do của toàn nhân loại với ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đóng góp này của Hồ Chí Minh đã “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” (Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh). Chính vì vậy mà ngay từ năm 1990, UNESCO đã ghi nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hoá lớn.

Công cuộc đổi mới mà nhân dân ta đang tiến hành hôm nay là sự tiếp nối con đường Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Con đường xây dựng một nước Việt Nam Hòa bình, Thống nhất, Độc lập, Dân chủ, Giàu mạnh và tích cực góp phần vào phong trào cách mạng thế giới mà dân tộc đang đi hôm nay vẫn được rọi sáng bởi tư tưởng Hồ Chí Minh.

[1] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. CTQG - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr. 12.

2 Hai lần Toàn quyền Đông Dương (11/1911 – 1/1914 và 1/1917 - 5/1919).

3 T. Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 14.

4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.9

5, 6, 7, 8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr. 167, 272, 280, 469 - 470

9 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 3, tr. 1

10, 11 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 391, 390 - 392