PGS.TS BÙI ĐÌNH PHONG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Xây dựng Đảng đạo đức trong giai đoạn hiện nay tập trung giáo dục cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức. Thực hiện nghiêm Quy định 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới như: Yêu nước, tôn trọng nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Đoàn kết, kỷ cương, tình thương trách nhiệm; Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời. Xây dựng Đảng văn minh tập trung giáo dục cán bộ, đảng viên nhận thức và xây dựng Đảng sáng suốt về đường lối, tổ chức, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là một Đảng trí tuệ, bản lĩnh luôn luôn vững vàng trước mọi diễn biến của thế giới.

Tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Còn có những cách hiểu khác nhau về hai từ “văn minh” trong câu nói đó. Đặt trong bối cảnh và văn cảnh khi Hồ Chí Minh đồng thời dùng các từ Đảng ta “vĩ đại, phấn đấu, thắng lợi biết bao nhiêu tình; thống nhất, độc lập, hòa bình, ấm no; công ơn Đảng thật là to; pho lịch sử bằng vàng” có thể hiểu Hồ Chí Minh nói Đảng ta “là văn minh” là bàn về sự sáng đẹp, trình độ phát triển và sự sáng suốt, tinh tường của Đảng; nhấn mạnh tính chính đáng, chính danh, quang minh chính đại của một Đảng chân chính cách mạng. Câu nói vừa có ý nghĩa tổng kết 30 năm hoạt động của Đảng, vừa thể hiện sự mong muốn Đảng ta mãi mãi xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”. Mặt khác “đạo đức” và “văn minh” gắn bó mật thiết với nhau, vì một trong những đặc trưng cơ bản của văn minh là đạo đức. Mà đạo đức cao nhất của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, xây dựng một xã hội hiện đại, phồn vinh, văn minh, thịnh vượng.

1. Xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ Đại hội XII, cùng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, Đảng ta đề cập xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức. Tại Đại hội XIII, đề cập xây dựng Đảng về đạo đức, Đảng ta yêu cầu “nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày”1.

Di sản Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy của báu chứa đựng biết bao giá trị, xét đến cùng là những giá trị văn hóa, đạo đức. Vì vậy, giải pháp hàng đầu, bao trùm, xuyên suốt xây dựng Đảng về đạo đức là đẩy mạnh giáo dục học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Học thật, thường xuyên, thấm nhuần sâu sắc giá trị đạo đức Hồ Chí Minh; làm thật, thực hiện thường xuyên các nhiệm vụ chính trị có hiệu quả. Học đi đôi với làm, trong học có làm, trong làm có học.

Cần phải đẩy mạnh giáo dục, vì giáo dục không thường xuyên con người rất dễ vướng vào cái ác. Cán bộ, đảng viên không được giáo dục đạo đức cách mạng rất dễ hư hỏng, biến chất. Không ít cán bộ, đảng viên không hiểu thấu hoặc cố tình không hiểu giá trị thật sự của đạo đức cách mạng nên dễ vấp ngã, sa vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân. Với suy nghĩ giản đơn làm giàu trước hết, trên hết, họ cho rằng đói cơm, khát nước mới đáng lo, còn thiếu đạo đức thì chưa ai chết. Họ mới biết cái chết về thể xác mà chưa nhận thức được cái chết về đạo đức. Trong thực tế, nhiều cán bộ - nhất là những người có quyền mà thiếu tu dưỡng về đạo đức, làm cho quyền lực bị tha hóa - chưa chết về thể xác đã chết về chính trị, đạo đức. Phải giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên để họ hiểu rằng “thiếu một đức, thì không thành người”2 và “người không liêm, không bằng súc vật… Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”3. Đó là người thường. Nếu là cán bộ, đảng viên thì còn nguy hại hơn vì “tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, đến nhân dân”4. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc, thấu đáo vai trò, sức mạnh của đạo đức cách mạng. Nó như gốc của cây, nguồn của sông, vốn làm kinh tế, sức mạnh của người gánh nặng đường xa. Phải ghi tạc vào đầu chân lý: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”5.

Mục đích sâu xa của đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng là “làm cho cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn luôn vững vàng trước khó khăn thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng”6. Gần tám mươi năm trước, Hồ Chí Minh đã đề cập đến bổn phận của đảng viên: “a. Suốt đời đấu tranh cho dân tộc, cho Tổ quốc. b. Đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết, lên trước hết. c. Hết sức giữ kỷ luật và giữ bí mật của Đảng. d. Kiên quyết thi hành những nghị quyết của Đảng. đ. Cố gắng làm kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi việc. e. Cố gắng học tập chính trị, quân sự, văn hóa. Phải gần gũi quần chúng, học hỏi quần chúng, cũng như phải lãnh đạo quần chúng”7. Hiện nay đảng viên vẫn phải thi hành những bổn phận đó, có vận dụng sáng tạo cụ thể trong công việc, nhiệm vụ của mình cho phù hợp với tình hình mới.

Gắn với giáo dục của Đảng, mỗi đảng viên, cán bộ phải tự giáo dục, tự tu dưỡng, rèn luyện, tự vượt lên chính mình và thực hành đạo đức như chuyện rửa mặt hằng ngày. Thực hiện nghiêm Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới với các nội dung: 1. Yêu nước, tôn trọng nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; 2. Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập; 3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; 4. Đoàn kết, kỷ cương, tình thương trách nhiệm; 5. Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời8.

Sự nêu gương, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ cốt cán là một biện pháp quan trọng trong xây dựng Đảng về đạo đức. Đây không chỉ là câu chuyện của Đảng mà là giá trị văn hóa phương Đông như Hồ Chí Minh chỉ rõ “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người cách mạng, đảng viên cộng sản, cán bộ cao cấp, những người giữ trách nhiệm quan trọng càng phải là tấm gương sáng vì họ là tiêu biểu cho danh dự, trí tuệ, lương tâm của dân tộc. Họ không thể nói suông, ngồi viết mệnh lệnh, mà phải thật thà nhúng tay vào việc, nói đi đôi với làm. Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”9.

Chữ “dũng” là một phẩm chất quý giá trong xây dựng Đảng về đạo đức. Hồ Chí Minh nhấn mạnh “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến; có gan phụ trách, có gan làm việc, có gan cất nhắc cán bộ. Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”10. Bàn về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, Đảng ta nhấn mạnh: “có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”11.

Xây đi đôi với chống. Cán bộ, đảng viên phải biết “yêu nhất điều thiện, ghét nhất điều ác”. Trong xây có chống, trong chống có xây; xây là chủ yếu, lâu dài. Xây dựng Đảng về đạo đức là xây cái chân, cái thiện, cái mỹ, đồng thời phải chống cái sai, cái ác, cái xấu. Xét đến cùng, cốt lõi đạo đức của cán bộ, đảng viên cần phải xây là chí công vô tư. Có chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít và những tính tốt như cần, kiệm, liêm, chính, nhân, nghĩa, trí, dũng ngày càng thêm. Ngược lại cần phải chống chủ nghĩa cá nhân, vì nó là giặc trong lòng, rất gian giảo, xảo quyệt, rất nguy hiểm, một thứ vi trùng rất độc đẻ ra trăm thứ bệnh khác nhau, che lấp đạo đức cách mạng, ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cách mạng, phá từ trong phá ra, kẻ thù hung ác của chủ nghĩa xã hội, một trở ngại lớn cho việc xây dựng Đảng. Cho nên thành công của công tác xây dựng Đảng không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.

2. Xây dựng Đảng văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo Hồ Chí Minh, tư cách thể hiện sự văn minh của đảng chân chính cách mạng là ở chỗ: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”12. Hiện nay, xây dựng Đảng văn minh phải bắt đầu, xuyên suốt và cuối cùng cũng là điểm mấu chốt này. Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Ngoài lợi ích của Tổ quốc và dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Điều này trước hết thuộc về chủ trương, đường lối, cương lĩnh của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn, từ cuộc sống, xu thế đổi mới của đất nước, đúng quy luật, thuận lòng dân, tâm tư, nguyện vọng và đòi hỏi chính đáng của các tầng lớp nhân dân, hợp xu thế, diễn biến của thời đại. Tức là cương lĩnh, đường lối của Đảng phải thể hiện được sự gặp nhau giữa ý Đảng - lòng Dân, lòng Dân - ý Đảng. Bốn mươi năm đổi mới, Đảng ta tập trung xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến chiến đấu của Đảng theo hướng này. Cương lĩnh của Đảng khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. “Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”13.

Xây dựng Đảng văn minh, sáng suốt là phải tỏ rõ sự tiên phong, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải coi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cái cẩm nang thần kỳ, kim chỉ nam cho hành động, mặt trời soi sáng công cuộc đổi mới, trong đó có công tác xây dựng Đảng. Trên cơ sở nắm vững, quán triệt sâu sắc, cần phải vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn và diễn biến của thời đại. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - sau khi nhấn mạnh tính khoa học, cách mạng triệt để, những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã và tiếp tục phát triển đầy sức sống trong thực tiễn - khẳng định: “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học, để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”14.

Đảng ta là văn minh, điều cốt yếu là phải giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Trong sự vận động phong phú của thực tiễn và xu hướng phát triển của thời đại, Đảng phải tỏ rõ lập trường, trí tuệ, bản lĩnh, tính chiến đấu và sự thích ứng để tồn tại và đòi hỏi năng lực lãnh đạo, sứ mệnh cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp chiến lược, lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp.

Xây dựng Đảng văn minh là phải hiểu thấu, quán triệt và thực hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, là thước đo, tiêu chí để đánh giá một đảng có thật sự vững mạnh, trong sạch hay không. Một đảng nhận thức, thực hành tốt tư tưởng Hồ Chí Minh về “tập trung trên nền tảng dân chủ và dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập trung” thì đảng sẽ có được sự thống nhất về tư tưởng và hành động, đảng tuy đông người nhưng khi tiến đánh chỉ như một người. Đồng thời Đảng phải giáo dục giữ nghiêm và thi hành kỷ luật. Vì “nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại”15.

Đảng văn minh không thể tách rời công tác tư tưởng và nghiên cứu lý luận của Đảng. Hiện nay cần phải tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức công tác tư tưởng. Đảng có sứ mệnh to lớn, vinh quang là lãnh đạo toàn dân, đưa đất nước sải bước cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu. Muốn làm tốt điều này, công tác tư tưởng của Đảng phải “chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”16. Đó là một trong những cách tốt nhất để xử lý đúng đắn, kịp thời các vấn đề tư tưởng trong Đảng, trong xã hội, bảo đảm tính thống nhất tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội.

Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển, từng bước hoàn thiện hệ thống lý luận là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết, đòi hỏi tất yếu khách quan để Đảng thể hiện trí tuệ và sự sáng suốt trong lãnh đạo. Trong hoạch định đường lối đổi mới, bên cạnh các vấn đề đã chín, đã rõ, còn nhiều vấn đề lý luận cần tiếp tục được nghiên cứu làm rõ hơn, sâu sắc hơn, hoàn thiện hơn như vấn đề phương thức lãnh đạo của Đảng; vấn đề cán bộ; giải quyết mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, v.v.. Tổng kết thực tiễn đồng nghĩa với việc xem lại nghị quyết Đảng đã đi vào cuộc sống thế nào, rút ra những bài học kinh nghiệm để thấy Đảng làm được gì, chưa làm được gì, nguyên nhân do đâu? Đây là một điểm nhấn trong mười hai điều tư cách của Đảng chân chính cách mạng Hồ Chí Minh nêu ra: “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”17.

Tinh thần, thái độ phê bình của Đảng là một điểm cốt yếu của Đảng văn minh. Đây là một trong mười hai điều được Hồ Chí Minh coi là thước đo đảng chân chính cách mạng. Người viết: “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”18. Tại sao thái độ phê bình của Đảng lại là một tiêu chí của Đảng văn minh? Vì Đảng ta là quang minh chính đại. Đảng vì nước, vì dân phục vụ thì không sợ khuyết điểm, không sợ phê bình và chỉ có Đảng chân chính vì dân, vì nước thì mới dám tự phê và phê bình. Một đảng chân chính cách mạng thì không sợ, không giấu khuyết điểm. Theo Hồ Chí Minh, Đảng và người chân chính cách mạng “vì Đảng, vì nhân dân mà dám hy sinh cả tính mệnh thì không lẽ gì lại vì thể diện, hoặc vì một cái gì khác mà không dám thẳng thắn tự phê bình để vứt bỏ những tư tưởng, những ý nghĩ và những tác phong sai lầm”19. Cách mạng, Đảng sở dĩ phát triển và tiến bộ, càng gian khổ, thử thách càng mạnh mẽ thêm là nhờ có phê bình và tự phê bình. Phê bình và tự phê bình là công việc thường xuyên như người ta cần không khí để sống, ngừng lại là ngừng tiến bộ, tức là thoái bộ. Để lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, Đảng “cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng. Sợ phê bình, tức là “quan liêu hóa”, tức là tự mãn tự túc, tức là “mèo khen mèo dài đuôi”20. Hồ Chí Minh dẫn lại lời Lênin: “Công khai thừa nhận sai lầm, tìm cho ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh của sai lầm, thảo luận kỹ càng cách sửa chữa sai lầm - đó là tiêu chuẩn của một đảng đúng đắn, như thế mới làm tròn nhiệm vụ của Đảng, như thế mới là giáo dục và huấn luyện giai cấp, và giáo dục quần chúng”21. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính. Cần phải nhấn mạnh thêm không chỉ là phê bình trong Đảng, mà một điều cực kỳ quan trọng là hiểu dân, học dân, hỏi dân, tin vào dân, phê bình trước dân, “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa nghị quyết, cán bộ và tổ chức của ta”22, “dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng”23. Với tinh thần đó, Đảng ta nhấn mạnh: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”24.

Trong 40 năm đổi mới, thái độ của Đảng ta là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Đảng ta nhận thức “sức mạnh của Đảng, của mỗi đảng bộ và đảng viên không chỉ ở ưu điểm mà còn ở chỗ nhận rõ và sửa chữa bằng được những vấn đề tồn tại, những sai lầm, khuyết điểm và tự vượt lên chính bản thân mình”25. Chúng ta cơ bản đã làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, đạt được một số ưu điểm. Tuy nhiên còn rất nhiều hạn chế như “làm lướt, làm qua loa, hình thức, chiếu lệ. Tình trạng xuê xoa, nể nang, thậm chí biến cuộc họp tự phê bình và phê bình thành nơi vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; cũng như lợi dụng dịp này để “đấu đá, “hạ bệ” nhau với những động cơ không trong sáng. Có trường hợp trù dập phê bình và vu cáo người khác”26.

Cần phải coi việc phê bình và tự phê bình trong Đảng là quy luật tồn tại và phát triển Đảng; là vũ khí sắc bén để xây dựng Đảng, để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên. Cần “mở rộng dân chủ nội bộ, thực hiện thường xuyên tự phê bình và phê bình - nhất là phê bình dưới lên. Toàn thể đảng viên, trước hết là các cán bộ phụ trách - phải làm gương mẫu tự phê bình và phê bình”27. Nếu trong Đảng không dân chủ khiến cán bộ có ý kiến cũng không dám nói, không dám phê bình, sinh ra uất ức, chán nản, không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” là nguy cơ cho Đảng. Cần phải nhận thức sâu sắc, thấu đáo lời Hồ Chí Minh: “Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản”28. Từ nhận thức đó, điều quan trọng hiện nay là phải “thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, người đứng đầu phải gương mẫu và phải có các hình thức dân chủ để quần chúng đóng góp phê bình cán bộ, đảng viên và phải nghiêm túc tiếp thu những ý kiến phê bình đúng đắn”29. Chúng ta “không đồng nhất việc trong Đảng có những ý kiến khác nhau khi thảo luận, tranh luận trong tổ chức với tình trạng mất đoàn kết. Trước sự phát triển của cách mạng, có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn rất phức tạp, chưa sáng tỏ, trong Đảng cần có sự thảo luận, tranh luận. Mọi cán bộ, đảng viên phải biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau, thật sự vì chân lý, lẽ phải”30.

Xây dựng các giá trị đạo đức cách mạng của Đảng cầm quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là vấn đề lớn. Tám mươi năm qua khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, đặc biệt trong 40 năm đổi mới, Đảng ta vừa nghiên cứu vừa thực hiện theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên vẫn phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện để làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh, đảm trách sứ mệnh cầm quyền tốt hơn; tổ chức đảng có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu mạnh hơn; cán bộ, đảng viên gương mẫu, gắn bó mật thiết với nhân dân hơn. Tất cả những điều đó sẽ góp phần to lớn, quan trọng làm cho sự lãnh đạo của Đảng ngày càng sáng suốt, tinh tường, sáng tạo, đúng đắn, nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

[1],6, 11, 6  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tập1, tr.184, 184, 187, 181

2, 3, 9 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.117, 127, 16

4, 5,7, 10, 12, 15, 17, 18, 19, 20, 22, 28 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.294, 292-293, 306, 319, 320, 321, 289, 324, 290, 290, 210, 301, 337-338, 319-320

8 Xem Quy định 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024.

13 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tập 2, tr.322-323.

14 Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2022, tr.37-38.

21 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 11, tr.210.

23 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 8, tr.281.

24 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tập 1, tr.191.

25 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.60.

26 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia-sự thật, Hà Nội, 2012, tr.102.

27 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 9, tr.522.

29 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Sđd, tr.102.

30 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.144.