TS TRẦN THỊ HUYỀN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
THS MAI THỊ XUÂN
Đại học Thủy Lợi
Trong Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất phản nhân đạo của chủ nghĩa thực dân. Chương II, “Việc đầu độc người bản xứ”, là một trong những chương tiêu biểu, phơi bày thủ đoạn đầu độc thể xác và tinh thần của dân tộc bị trị thông qua chính sách rượu và thuốc phiện. Với ngòi bút chính luận sắc sảo, giọng văn châm biếm sâu cay và chứng cứ xác thực, Nguyễn Ái Quốc không chỉ tố cáo tội ác của thực dân Pháp mà còn thể hiện tư duy nhân đạo, phê phán và tầm nhìn vượt thời đại. Bài viết phân tích nội dung và nghệ thuật của chương “Việc đầu độc người bản xứ”, qua đó rút ra những bài học có giá trị trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) của Nguyễn Ái Quốc là một tác phẩm chính luận tiêu biểu, là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với các nước thuộc địa. Bằng ngòi bút sắc sảo, với ngôn từ phong phú, tư duy logic chặt chẽ Nguyễn Ái Quốc đã đưa chủ nghĩa thực dân ra “tòa án công lý” của nhân loại. Tác phẩm thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và lương tâm của một người cộng sản quốc tế. Chương II - “Việc đầu độc người bản xứ” - là một điển hình của lối viết vừa giàu tính chính luận, chiến đấu, vừa thể hiện rõ tình thương, lòng nhân đạo, sự thấu hiểu, cảm thông sâu sắc với cực khổ của người dân ở các nước thuộc địa. Ở đó, Nguyễn Ái Quốc phơi bày một tội ác mang tính hệ thống của chế độ thực dân Pháp: đầu độc người dân Đông Dương bằng rượu cồn và thuốc phiện, kìm hãm trong vòng ngu dốt, nhằm hủy diệt thể xác, làm tê liệt ý chí và nô dịch tinh thần của nhân dân thuộc địa.
Nghiên cứu chương “Việc đầu độc người bản xứ” giúp người đọc nhận diện rõ hơn tư tưởng phê phán của Nguyễn Ái Quốc và bài học về sức đề kháng tư tưởng cho xã hội Việt Nam hiện nay trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
1. Đầu độc thể xác – tội ác nhân danh “văn minh khai hóa” của chủ nghĩa thực dân
Năm 1925, tại Pari - Thủ đô của nước Pháp, trung tâm văn hóa, chính trị của châu Âu, Nguyễn Ái Quốc đã xuất bản tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. Thời điểm này Người đang hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trực tiếp tham gia công tác tuyên truyền, giác ngộ các dân tộc thuộc địa. Với hiểu biết sâu rộng, trải nghiệm thực tế phong phú, tác phẩm là một thiên phóng sự điều tra vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp tại các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
“Việc đầu độc người bản xứ” là chương 2 trong 12 chương của tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, với dung lượng chỉ hơn 5 trang viết nhưng đã phơi bày sự xảo trá, man rợ và tội ác của chủ nghĩa thực dân tại các nước thuộc địa.
Mở đầu chương viết, Nguyễn Ái Quốc dẫn “lời ngài Xarô quý mến” – đảng viên Đảng cấp tiến, nguyên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa – người tự nhận là “cha hiền của dân bản xứ”. Bằng giọng văn châm biếm, mỉa mai, ngay sau lời của “người cha hiền ấy” là ngòi bút tả thực, Nguyễn Ái Quốc đã phơi bày một sự thật tàn nhẫn, chính “người cha hiền” của người bản xứ đã “không từ một thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn bỉ ổi nhất và những tội ác”1 chỉ thị mở rộng đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện để “nhồi nhét văn minh Đại Pháp” cho dân thuộc địa, nhằm “vơ vét cho đầy túi tham của bọn kẻ cướp thực dân và cả của ngài nữa”2.
Minh chứng cụ thể cho sự xảo trá, tham lam của chủ nghĩa thực dân, Nguyễn Ái Quốc đã trích nguyên văn bức thư của Toàn quyền Xarô gửi các Công sứ. Chính “người cha hiền của dân bản xứ” đã trực tiếp yêu cầu các công sứ và quan chức địa phương “giúp đỡ những cố gắng của Nha Thương chính trong việc đặt thêm đại lý bán lẻ thuốc phiện và rượu”3. Người “cha hiền” đó còn cẩn thận gửi “bản danh sách những đại lý cần đặt trong các xã đã kê tên”, chỉ dạy cách tiến hành đó là “dùng ảnh hưởng to tát” để khuyến khích các tiểu thương người bản xứ tham gia buôn bán vì “rất có lợi”. Mục đích của việc đặt thêm đại lý bán lẻ thuốc phiện và rượu cũng không hề được che giấu mà chỉ rõ: “Chúng ta chỉ có thể đạt kết quả mỹ mãn, nếu chúng ta hợp đồng với nhau chặt chẽ và liên tục, vì lợi ích tối cao của ngân khố”4.
Chỉ một câu “vì lợi ích tối cao của ngân khố” đã đủ nói lên bản chất thật của nền “khai hóa văn minh” tất cả vì lợi nhuận, vì lợi ích của chủ nghĩa thực dân, bất chấp sức khỏe, thậm chí tính mạng của người dân các nước thuộc địa, đó là sự “khai thác”, “khai tử” nền văn hóa và đời sống của các dân tộc thuộc địa.
Không dừng lại ở đó, Nguyễn Ái Quốc còn dẫn ra con số cụ thể: “hằng năm người ta cũng đã tọng từ 23 đến 24 triệu lít rượu cho 12 triệu người bản xứ, kể cả đàn bà và trẻ con”5. Con số cụ thể này đã một lần nữa chỉ rõ tội ác có tổ chức của nhà cầm quyền nhân danh “khai hóa”. Số lượng rượu đưa ra cần tiêu thụ chỉ tính trên đầu người, bất chấp cả đàn bà và trẻ con cho thấy đây không còn là một hiện tượng kinh tế mà chính là một tội ác có tổ chức. Các nhà “khai hóa”, những người “cha hiền” của các dân tộc thuộc địa đã chỉ vì lợi ích của mình, biến rượu cồn, thuốc phiện thành công cụ nô dịch thể xác, triệt tiêu sức sống của dân tộc bị trị.
Nguyễn Ái Quốc đã dựng nên một bức tranh vô cùng sinh động mà ám ảnh: “Nói đến các món độc quyền, người ta có thể hình dung Đông Dương như một con nai béo mập bị trói chặt và đương hấp hối dưới những cái mỏ quặp của một bầy diều hâu rỉa rói mãi không thấy no”6. Hình ảnh “con nai béo mập” tượng trưng cho xứ thuộc địa giàu tài nguyên, khoáng sản, nguồn nhân lực và sức lao động dồi dào, còn “bầy diều hâu” chính là ẩn dụ cho giới cầm quyền thực dân - những kẻ tham lam, tàn ác, vô nhân tính. Những kẻ thực dân với lòng tham vô đáy, sẵn sàng chà đạp tính mạng, đời sống của người dân thuộc địa để đạt mục đích tham lam vô độ của mình. Thông qua hình tượng “con nai béo mập” và “bầy diều hâu” Nguyễn Ái Quốc đã khái quát, chỉ ra bản chất bóc lột, bạo tàn của chủ nghĩa thực dân. Chính thủ đoạn đó đã biến rượu cồn và thuốc phiện thành vũ khí nô dịch thể xác – tàn phá sức khỏe, triệt tiêu ý chí, hủy hoại nhân cách và làm suy sụp nền tảng đạo đức, kinh tế của cộng đồng, quốc gia người bản xứ.
Bằng giọng văn sắc lạnh, Người kể lại chuyện viên Công sứ Sơn Tây “nâng số lượng rượu tiêu thụ lên 560.000 lít một năm”7 và được khen thưởng, trong khi viên công sứ khác “bị cảnh cáo” vì dân uống ít. Khi bị dân kêu rằng “ngay cái ăn cũng không có”, viên quan thực dân lạnh lùng trả lời: “Chúng mày quen ngày ba bữa, bây giờ bớt đi một bữa, hay nếu cần thì bớt đi một bữa rưỡi để có thể mua rượu của nhà nước”8. Thông qua câu nói của quan cai trị, Nguyễn Ái Quốc đã phơi bày bản chất phi nhân tính của nền cai trị thực dân. Ở đó, người dân bản xứ không còn được coi là con người – mà chỉ là công cụ tiêu thụ, là đối tượng mang lại lợi nhuận cho “nước mẹ đại Pháp”, cho các quan cai trị mà thôi.
Nguyễn Ái Quốc còn chỉ ra sự thay đổi có chủ đích trong kỹ thuật đầu độc. Từ việc hiểu văn hóa của người bản xứ, nếu “người bản xứ quen mua rượu từng ít một; họ mang chai lọ thế nào cho vừa thì thôi”. Thì nay, để ép họ phải mua thêm, để tăng nguồn rượu tiêu thụ được, “người ta đóng rượu vào chai sẵn. Rượu chỉ bán trong chai nửa lít hay một lít”9. Quan cai trị còn hướng dẫn các Công sứ ép dân mua rượu pha nước lã “cứ mỗi héctôlít rượu pha thêm 8 lít nước lã” để thu thêm lợi nhuận khổng lồ, thậm chí là nâng nồng độ từ 20-22 độ lên 40-45 độ để quá trình đầu độc diễn ra ngày càng nhanh hơn.
Với những con số biết nói, sự phân tích cụ thể, Nguyễn Ái Quốc đi tới một kết luận lạnh lùng mà đau xót: “Rõ ràng là người ta đã ấn định trên thực tế - nếu không phải bằng cách hợp pháp - mức rượu mà mỗi người bản xứ buộc phải uống hằng năm”10. Lời văn nhẹ nhàng mà như một nhát búa giáng xuống, chấm dứt mọi ngụy biện về “văn minh”, “khai hóa” của chủ nghĩa thực dân, chỉ ra thực chất văn minh mà thực dân đem đến các dân tộc thuộc địa chỉ là một hệ thống cưỡng bức tiêu thụ rượu và thuốc phiện – thứ văn minh làm mục ruỗng thể xác và tâm hồn của người dân các nước thuộc địa.
2. Đầu độc tinh thần – chính sách ngu dân nhằm hủy diệt ý chí dân tộc
Toàn bộ tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã tố cáo bản chất bóc lột, bạo tàn của chủ nghĩa thực dân. Nội dung tác phẩm cho người đọc hiểu rõ, nếu “đầu độc thể xác” là làm suy nhược con người bằng rượu cồn và thuốc phiện, thì “đầu độc tinh thần” là chính sách vô cùng thâm độc hơn nữa làm tê liệt ý chí, triệt tiêu tinh thần phản kháng của những người dân bị áp bức. Khi bị đầu độc tinh thần, bị u mê trong vòng ngu dốt, người dân bị áp bức ở các nước thuộc địa sẽ chỉ biết chấp nhận, ngoan ngoãn làm theo, chỉ như những con vật “đập đi, hò đứng” mà không dám phản kháng, không dám đứng lên đấu tranh bảo vệ tính mạng, nhân phẩm cá nhân, giai cấp và dân tộc mình.
Trong chương II: Việc đầu độc người bản xứ, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “cứ một nghìn làng thì có đến một nghìn năm trăm đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện. Nhưng cũng trong số một nghìn làng đó lại chỉ có vẻn vẹn mười trường học”11. Đây là chiến lược “ngu dân” nhằm biến dân bản xứ thành đám người mù chữ, nghiện ngập, dễ bảo, dễ sai khiến. Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng hình ảnh so sánh có tính chất tương phản để làm lộ bản chất phản giáo dục của thực dân Pháp khi chỉ chú trọng việc đầu độc hơn là giáo dục, chú trọng việc hủy diệt thể chất hơn là nâng cao dân trí.
“Làm cho dân ngu để dễ trị"12, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa ưa dùng nhất. Chính sách ngu dân được thực dân Pháp sử dụng triệt để ở các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam bởi chúng hiểu rằng giáo dục chính là chìa khóa để nâng cao tri thức và thức tỉnh dân tộc thoát khỏi vòng u mê. Năm 1919, trong tác phẩm Vấn đề bản xứ, Nguyễn Ái Quốc đã phản ánh thái độ của thực dân Pháp khi chúng coi việc “Truyền học vấn cho bọn Annamít hoặc cho phép chúng tự chúng có học vấn, tức là một mặt cung cấp cho chúng những súng bắn nhanh để chống chúng ta, và mặt khác đào tạo những con chó thông thái gây rắc rối hơn là có ích..."13. Do đó, thực dân Pháp lập các “nhà tù nhiều hơn trường học”14. Các trường học đó “lúc nào cũng mở cửa và chật ních người. Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đều bị bắt và đôi khi bị giết mà không cần xét xử”15. Việc hạn chế mở trường học, dẫn tới “trường học thiếu một cách nghiêm trọng”16. Chính quyền thực dân chỉ xây dựng số lượng trường học ít ỏi nhằm mục tiêu đào tạo “những con vẹt” phục vụ cho bọn xâm lược chứ không để nâng cao dân trí. Thậm chí: “Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm”17. Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ rõ mục đích của nền giáo dục thực dân không chỉ để đào tạo tuỳ phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết mà còn “gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa”18, một nền giáo dục làm hư hỏng mất tính nết của người đi học, dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức mình, dạy cho thanh thiếu niên khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình. Chúng cũng e sợ và và ngăn cản “không cho thanh niên An Nam sang du học bên Pháp, vì sợ nhiễm phải chủ nghĩa cộng sản”19.
Cùng với chính sách tàn bạo về giáo dục, trong tác phẩm Nguyễn Ái Quốc còn chỉ rõ những biện pháp thâm độc của thực dân khi kiểm duyệt “báo chí bản xứ” Những bài báo có tinh thần dân tộc bị chúng loại bỏ ngay từ khi mới manh nha. Thậm chí chúng còn xâm phạm quyền cá nhân của người dân khi “rờ mó cả vào thư từ riêng”20.
Có thể thấy chính sách tàn bạo của thực dân Pháp đã xâm phạm nghiêm trọng quyền cá nhân, quyền con người của người dân thuộc địa. Đây là những tội ác cần lên án và trừng trị.
3. Nghệ thuật ngòi bút chính luận của Nguyễn Ái Quốc.
Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp nói chung, trong đó có “Việc đầu độc người bản xứ” là minh chứng điển hình cho phong cách chính luận của Nguyễn Ái Quốc. Tác giả đã dùng các thủ pháp nghệ thuật kết hợp giữa lý trí phân tích và cảm xúc nhân đạo sâu sắc, qua đó nâng thể loại chính luận lên tầm nghệ thuật, biến mỗi câu chữ thành “vũ khí tinh thần” chống lại tội ác thực dân. Đó là:
Giọng điệu châm biếm, mỉa mai: Nguyễn Ái Quốc thường “khen để mắng”, dùng sự “ngọt ngào” để lột trần sự dối trá. Cách gọi “ngài Xarô quý mến” hay “cha hiền của dân bản xứ” chính là thủ pháp châm biếm bậc thầy đã được Người xử dụng trong chương viết.
Hình ảnh so sánh và ẩn dụ sinh động: Nguyễn Ái Quốc đã dùng hình ảnh tương phản giữa “những con thú hòa hợp thân mật” và “những hiện vật tội ác” (thanh gươm, cây đuốc dùng để hành hạ thổ dân) để mô tả Hội chợ thuộc địa Mácxây. Hình ảnh đó đã tạo nên một bức tranh bi hài: nơi thực dân tự hào phô diễn “nền văn minh”, lại phơi ra chính manh mối của tội ác. Đồng thời, Người dùng hình ảnh ẩn dụ mạnh, lột tả sự tham lam vô hạn và phi đạo đức của chính quyền thực dân: “con nai béo mập bị trói chặt”, “bầy diều hâu rỉa rói”, “mở vòi nước lã cũng ra tiền” hay “người ta buộc thân nhân uống thay trẻ con”. Mỗi hình ảnh là một nhát cắt sâu, làm hiện lên tính phi lý và tàn nhẫn của bộ máy thực dân.
Kết hợp lý và tình: Tác phẩm không phải là bản tố cáo khô khan mà chứa đựng nỗi đau, sự căm phẫn và tình thương vô hạn với người bị áp bức. Mỗi đoạn văn đều có mở đầu - chứng minh - kết luận, dẫn số liệu cụ thể, lập luận theo trình tự logic, thể hiện tư duy khoa học và bản lĩnh của một nhà cách mạng đã thấm nhuần phương pháp duy vật biện chứng. Với chứng cứ xác thực, Người trích dẫn nguyên văn thư của Toàn quyền Xarô, nêu tên cụ thể các nhân vật có cổ phần trong công ty độc quyền rượu: từ chưởng lý, biện lý, sĩ quan, công sứ, đến nghị viên Pháp. Sự thật ấy không thể chối cãi, khiến lời buộc tội của Người trở nên khách quan và thuyết phục và đặc biệt hơn nữa, tác phẩm lại được xuất bản chính ở trung tâm của nước Pháp – thủ đô Pari hoa lệ.
4. Ý nghĩa, bài học trong giai đoạn hiện nay
Chương “Việc đầu độc người bản xứ” là một trong những chương đặc sắc và có sức tố cáo mạnh mẽ của Bản án chế độ thực dân Pháp. Bằng ngòi bút chính luận sắc bén, Nguyễn Ái Quốc đã biến hiện thực đau thương của dân tộc thành bản cáo trạng hùng hồn, vạch trần bản chất tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc không chỉ vạch ra một chính sách cụ thể của Pháp ở Đông Dương mà còn phơi bày cơ chế toàn cầu của chủ nghĩa thực dân: nơi nào có thuộc địa, ở đó có bóc lột và đầu độc. Tội ác của thực dân không chỉ ở việc cướp bóc tài nguyên, mà còn ở việc huỷ diệt giống nòi và nhân tính của người bị trị. Qua đó, người đọc thấy rõ tư duy phê phán hệ thống của Nguyễn Ái Quốc. Người không chỉ lên án sự tàn ác của cá nhân những nhà “khai sáng” mà vạch trần cơ chế cấu thành tội ác – nơi lợi nhuận, quyền lực và “văn minh khai hóa” kết hợp để hủy diệt con người; rượu cồn và thuốc phiện chỉ là biểu hiện vật chất của một thứ “đầu độc tinh thần” lớn hơn – đó là sự lệ thuộc, ngu dân và nô dịch tư tưởng. Đồng thời cũng thể hiện rõ tư duy, tầm nhìn vượt thời đại của Nguyễn Ái Quốc. Người đã sớm nhận ra bản chất của mọi hình thức thống trị - không chỉ bằng bạo lực, mà bằng sự thao túng ý thức và nhu cầu.
Tác phẩm cũng thể hiện tinh thần nhân đạo cách mạng sâu sắc, thể hiện sự thấu hiểu, tình thương vô hạn đối với nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng. Ẩn sau những dòng tố cáo là tiếng nói của một người con yêu nước, đau xót trước cảnh dân mình bị “đầu độc” cả thể xác và tâm hồn. Đó cũng là biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo Hồ Chí Minh – nhân đạo chiến đấu, nhân đạo giải phóng con người khỏi mọi hình thức nô lệ
Tác phẩm còn có giá trị vạch đường cho cách mạng thuộc địa. Thông qua việc chỉ rõ tội ác, Nguyễn Ái Quốc đồng thời gợi ra điều tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc: muốn sống, phải vùng lên phá bỏ xiềng xích thực dân. “Bản án” không chỉ là tố cáo, mà là lời kêu gọi đấu tranh - bằng lý trí của người bị áp bức, bằng ý chí của dân tộc bị đầu độc nhưng không chịu khuất phục và niềm tin vào sức mạnh của dân tộc bị áp bức.
Trong giai đoạn hiện nay, khi thế giới phẳng, hội nhập quốc tế sâu rộng, con người đứng trước những hình thức đầu độc tinh vi hơn. Nếu trong thế kỷ XX, người dân bị cưỡng bức uống rượu và hút thuốc phiện, thì trong thế kỷ XXI, họ có thể bị đầu độc bởi lối sống thực dụng, văn hóa tiêu dùng, thông tin sai lệch và sự lệ thuộc công nghệ. “Rượu cồn” và “thuốc phiện” thời hiện đại có thể mang tên khác - đó là sự giải trí vô độ, quảng cáo lừa dối, tệ nạn xã hội hay lệ thuộc mạng xã hội - tất cả đều có thể làm tê liệt tư duy phản biện, đánh mất giá trị nhân văn.
Một dân tộc chỉ thực sự tự do, độc lập khi không bị đầu độc - dù bằng vật chất hay tinh thần. Chính vì vậy, bài học từ “Việc đầu độc người bản xứ” chính là xây dựng sức đề kháng văn hóa – tư tưởng, giữ gìn bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí và củng cố niềm tin vào giá trị nhân đạo, độc lập và tự chủ, tự lực và tự cường. Phải luôn tự tạo sức đề kháng những nguy cơ đầu độc tinh vi của thời đại, để từ đó nuôi dưỡng tinh thần độc lập, bản lĩnh văn hóa và ý thức nhân đạo – những giá trị làm nên hồn cốt bản sắc dân tộc và con người Việt Nam.
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội 2011, tập 2, tr.39
2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 15, 16, 19, 20 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 2, tr. 39, 39, 39, 40, 40, 42, 43, 43, 43, 39, 108, 107, 107, 108, 107
3, 14, 17, 18 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 1, tr.11, 34, 424, 424