ĐỖ HOÀNG LINH
Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

1. Tàu Amiral Latouche Treville của hãng Chargeurs Réunis

Tàu Amiral Latouche-Tréville chuẩn bị rời cảng Sài Gòn và ảnh chụp mặt trước cầu tàu năm 1911 (ảnh gốc của nhà sưu tầm Nguyễn Đại Hùng Lộc)

Tàu Amiral Latouche-Tréville thuộc quyền sở hữu của hãng tàu Chargeurs Réunis, còn gọi là Hãng Năm Sao do biểu trưng của hãng có hình 5 ngôi sao trên cột ống khói. Đây là một trong 6 chiếc tàu mang danh hiệu của Amiral của hãng Chargeurs Réunis, gồm Latouche-Tréville, de Kersaint, Nielly, Orly, Ponty và Magon.

Chiếc tàu được đặt theo tên của Đô đốc hải quân Pháp Louis René Latouche-Tréville (1745-1804), mang số hiệu 5601960, do Hãng đóng tàu Loire (Pháp) khởi công đóng vào 21/9/1903 và hạ thủy vào tháng 2/1904 tại Nantes. Tàu có kích thước dài 118,7m, ngang 15,2m, trọng tải 5.572 tấn, tải trọng tối đa 7.200 tấn, vận hành bằng hơi nước, sức chứa tối đa có thể đạt đến 1.100 người (kể cả thủy thủ đoàn). Sau khi được hạ thủy, tàu được hãng Chargeurs Réunis đưa vào khai thác từ năm 1904 đến 1929. Ngày 11/3/1929, tàu dừng hoạt động và được tháo dỡ tại Dunkerque sau 25 năm đi biển. Đầu thập niên 1920, văn phòng hãng Chargeurs Réunis ở Sài Gòn được đặt đối diện bờ sông Bến Nghé, ngay góc phố Catinat (bây giờ là đường Đồng Khởi), trên lầu một tiệm cà phê có bảng hiệu là La Rotonde. Ngày 02/6/1911, tàu Amiral Latouche Tréville chuyên chạy tuyến đường Pháp - Đông Dương, cùng thuyền trưởng Louis Édouard Maisen và đoàn thủy thủ 69 người từ Hải Phòng cập bến Sài Gòn. Trong khi chuẩn bị cho hải trình từ cảng Sài Gòn đi Marseille, Pháp, hãng Chargeurs Réunis tuyển thêm một số nhân sự làm việc trên tàu. Ngày 03/6/1911, Nguyễn Tất Thành chính thức xuống tàu bắt đầu làm phụ bếp, nhận thẻ nhân viên của tàu với tên mới là Văn Ba, mức lương 45 Franc Pháp/tháng. Trưa ngày 05/6/1911, con tàu Amiral Latouche Tréville đã rời bến sông Sài Gòn với 72 thủy thủ trên tàu đến cảng Keppel của Singapore. Từ đây, tàu vào Ấn Độ Dương, cập cảng Colombo, Ceylon (Sri Lanka), đến Djibouti rồi đi qua kênh đào Suez, cập cảng S’aid phía Bắc Ai Cập và tới cảng Marseille, Pháp ngày 06/7/1911, sau đó tàu đi tiếp đến Le Havre ngày 15/7/1911 và cuối cùng tàu đến Dunkerque ngày 26/7/1911, kết thúc 40 ngày hải trình. Tiếp sau đó, tàu quay lại Sài Gòn tháng 10/1911 và trở về Le Havre.

2, Con tàu chạy tuyến hàng hải châu Phi của hãng Chargeurs Réunis:

Tàu của hãng Chargeurs Réunis chạy tuyến châu Phi và bên trong một cabin loại 1 trên tàu (1911)

Jules Vignal là Chủ tịch và người sáng lập công ty máy hơi nước của Pháp, đã thành lập "Chargeurs Réunis"tại Le Havre vào năm 1872. Năm 1898, hạm đội của ông bao gồm 35 tàu. Năm 1891, họ vận chuyển gần 470.000 tấn hàng hóa và 13600 hành khách trên 1 triệu hải lý. Họ chủ yếu kết nối Le Havre với bờ biển phía tây châu Phi, Brazil, Argentina và New York. Năm 1901, tuyến Đông Dương bắt đầu được khai thác. Hãng Chargeurs Réunis là một trong những hãng tàu biển nổi tiếng và lớn mạnh nhất ở Đông Dương vào những năm đó. Hoạt động của hãng Chargeurs Réunis không chỉ ở tuyến đường biển từ Đông Dương đến Pháp mà còn rất nhiều tuyến khác trên toàn thế giới. Cuối năm 1911, sau khi con tàu Amiral Latouche Tréville trở về cảng Le Havre để sửa chữa, Nguyễn Tất Thành đã đến thị trấn Saint Adresse để làm vườn và tìm cơ hội tiếp tục khám phá thế giới. Đầu năm 1912, từ cảng Le Harve, Nguyễn Tất Thành đã nhận làm thuê cho một tàu hàng của hãng Chargeurs Réunis đi vòng quanh châu Phi. Con tàu đã xuôi theo phía Nam bờ biển nước Pháp, ghé bến cảng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Tunisie, Algerie, Senegal, Benin, Cameroon, Congo sau đó vượt Đại Tây Dương sang Argentina, Uruguay, Brazil, qua vùng biển Caribe có các quần đảo Guadeloupe, Martinique, Bahamas và đến NewYork, Hoa Kỳ đầu tháng 12/1912. Tuy chưa có tài liệu khẳng định chắc chắn Nguyễn Tất Thành đã phục vụ trên con tàu nào của hãng Chargeurs Réunis đến châu Phi và châu Mỹ, nhưng hình ảnh về một trong số những con tàu của hãng Chargeurs Réunis chuyên chạy tuyến hàng hải này cũng giúp chúng ta hình dung ra được phần nào con tàu đó

3, Phà biển tuyến quốc tế Newhaven (Anh) - Dieppe (Pháp):

Bến cảng Newhaven (Anh) và chiếc phà biển quốc tế Newhaven- Dieppe

Tại thị trấn Newhaven thuộc quận Lewes, vùng Sussex, miền Nam nước Anh có một tuyến phà biển nối giữa Newhaven của Anh với thị trấn Dieppe của Pháp qua eo biển Manche. Bến phà quốc tế Newhaven nằm trong hải cảng sầm uất bên cửa sông Ouse đổ ra eo biển Anh. Năm 1863, hãng đường sắt LB&SCR phối hợp với công ty Chemin de Fer de l‘Ouest (Pháp) đã đưa tuyến phà Newhaven-Dieppe vào hoạt động. Tuyến phà này vẫn được duy trì với tần suất hai chuyến một ngày, sáng và tối, do hãng LD Lines (Pháp) vận hành.Tháng 5/1913, sau một thời gian làm việc trên những con tàu đến châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, Nguyễn Tất Thành theo tàu trở về cảng Le Havre, Pháp rồi sau đó sang Anh. Tại London, thủ đô của đế quốc lớn nhất thế giới lúc đó, Người đã phải làm rất nhiều việc nặng nhọc như cào tuyết trong trường học, điều khiển hệ thống nước nóng rồi phụ bếp trong khách sạn nhỏ Drayton Court, rửa bát đĩa trong khách sạn danh tiếng Carlton ở thủ đô London. Theo tài liệu của chính quyền thị trấn Newhaven cho biết, người thanh niên Nguyễn Tất Thành từng đến làm việc tại bến phà này trong thời gian cuối Người ở nước Anh. Và rất có thể Người đã sang Pháp bằng chính chiếc phà biển quốc tế này vào cuối năm 1917.

4, Tàu thủy mang tên Karl Liebnecht:

Con tàu này trước đó có tên là Pallada, sau là tàu Vận tải số 73 và cuối cùng được đổi tên thành Karl Liebknecht vào ngày 11/10/1922. Tàu được đóng bởi công ty AG Howaldtswerke (Đức), hạ thủy ngày 19/2/1900. Từ năm 1922 đến 1938, tàu được đăng ký tại cảng Petrograd, thuộc Xí nghiệp vận tải thủy Baltich của Bộ Hàng hải Liên Xô. Sau năm 1938, tàu được đăng ký tại Odessa và Vladivostok cho đến khi ngừng hoạt động vào ngày 26/8/1954. Buổi tối ngày 13/6/1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời nước Pháp sang Liên Xô. Người lên xe bus tham gia một cuộc mittinh ở ngoại ô Paris rồi quay về ga xe lửa Du Nord sang Berlin (Đức). Đại diện đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCN xô viết Liên bang Nga tại đây đã cấp giấy đi đường cho Nguyễn Ái Quốc với tên Chen Vang, làm nghề thợ ảnh. Sau đó Nguyễn Ái Quốc được Sở cảnh sát Berlin cấp giấy phép tạm trú trên lãnh thổ Đức. Ngày 25/6/1923, Nguyễn Ái Quốc được cấp thị thực nhập cảnh vào Liên Xô nhưng vào thời gian đó, công nhân cảng Hambourg đang bãi công nên các tuyến hàng hải tê liệt, Nguyễn Ái Quốc phải gia hạn giấy tạm trú. Ngày 27/6/1923, với sự giúp đỡ của Đại diện Liên Xô tại Berlin, Nguyễn Ái Quốc đã lên tàu thủy Karl Liebnek khởi hành từ Hambourg đến Petrograd ngày 30/6/1923.

5, Chiến hạm Émile Bertin:

Chiến hạm Émile Bertin là một tàu tuần dương hạng nhẹ của hải quân Pháp, hoạt động trong chiến tranh thế giới thứ hai và nổi tiếng vì là tàu chiến đầu tiên của Pháp được trang bị tháp pháo ba nòng. Tàu được đóng tại hãng Chantiers de Penhoët, hạ thủy năm 1933. Tàu  dài 177m, với trọng tải 5.980 tấn, đạt tốc độ 63 km/h (hoặc 34 hải lý/giờ), có khả năng mang theo 2 thủy phi cơ với  thủy thủ đoàn 711 người. Tàu kết thúc hoạt động vào năm 1959, sau một thời gian hoạt động tại Đông Dương.

Sau khi Cao ủy Đông Dương, đô đốc D’ Argenlieu từ Pháp trở lại Sài Gòn thì Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp đã được JeanSainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Việt Nam theo sự chỉ đạo của tướng Lercler, Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, ký với đại diện của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 6/3/1946. Bản Hiệp định sơ bộ sau đó cũng được Chính phủ Pháp phê duyêt. Mặc dù không thích thú gì bản Hiệp định này, nhưng D’Argenlieu buộc phải chấp nhận việc đã rồi và đề nghị có cuộc gặp với Chủ tịch Hồ Chí Minh để thảo luận việc thực thi Hiệp định và cũng để chứng tỏ ông ta mới là người đại diện cao nhất của nước Pháp có thực quyền ở Đông Dương.

Chiến hạm Émile Bertin và Chủ tịch Hồ Chí Minh lên chiến hạm này hội đàm với Cao ủy Đông Dương, đô đốc D’Argenlieu (3/1946)

Cuộc gặp trên chiến hạm Émile Bertin được Bộ trưởng Bộ ngọai giao Hoàng Minh Giám viết trong hồi ký: “Bác hẹn ngày 24/3/1946 sẽ gặp d’Argenlieu trên vịnh Hạ Long. Đầu buổi chiều hôm đó, một thủy phi cơ đã đón Bác đi vịnh Hạ Long, có Sainteny hộ tống. Đi giúp Bác, có tôi, anh Vũ Đình Huỳnh và Nguyễn Tường Tam....Trên chiếc chiến hạm Emile Bertin, trang trí cờ quạt lộng lẫy, đô đốc D’Argenlieu mặc quân phục đại lễ, với đông đảo quan chức văn võ và một đơn vị lính thủy, đã xếp hàng chỉnh tề để đón Bác. Kèn chào nổi lên hoan nghênh vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. D’Argenlieu giới thiệu các quan khách có mặt. Tôi nhận thấy trong các quan khách đó có một số nhân vật đã gặp trong thời gian thương lượng Hiệp định Sơ bộ mồng 6/3: Pignon, Goron, Torel, Compain… Đa số các nhân vật đó là những công chức thuộc địa Pháp cao cấp (công sứ, thanh tra mật thám…) tập hợp xung quanh đô đốc. D’Argenlieu mời Bác tiến tới vài chục bước, để từ trên boong tàu Emile Bertin xem cuộc “diễu binh” trên biển của hạm đội Pháp (gồm năm, sáu chiến hạm) chào mừng Bác. Nhiều loạt đại bác nổ vang trong nhiều phút, rồi các chiến hạm diễu qua, quân lính trên các chiến hạm hô vang: “Hu-ra, Hu-ra, Hu-ra, Hu-ra…” theo nhịp điệu của quân nhạc… Xong cuộc duyệt binh, D’Argenlieu mời Bác dự một tiệc trà nhẹ, ngắn, với toàn thể quan khách, rồi sau đó mời Bác đến “phòng khách danh dự” để đàm thoại về vấn đề thi hành các điều khoản của Hiệp định sơ bộ 6/3. Dự cuộc họp này, ngoài Bác và D’Argenlieu, chỉ có tôi. Phát biểu trước, Bác nhắc D’Argenlieu chú ý việc thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản nói về trách nhiệm của hai bên phải đình chỉ ngay chiến sự ở miền Nam Việt Nam, quân đội mỗi bên đóng ở đâu phải ở nguyên đó. D’Argenlieu không đáp lời Bác, không tranh luận, mà đứng dậy, một cách long trọng, xoa tay và nói: Thưa ngài Chủ tịch, tôi xin lưu ý Ngài một điều: xin Ngài đừng gọi tôi là “Ông đô đốc”, mà gọi tôi là “Ông Cao ủy”. Tôi sực nhớ rằng từ lúc đặt chân lên chiến hạm Emile Bertin, Bác chưa hề gọi D’Argenlieu là “Ông cao ủy’. Cuộc hội đàm kết thúc lúc 17 giờ 30 phút. Lễ tiễn đưa không có bắn súng, không có duyệt hạm đội trên biển như trong lễ đón, nhưng vẫn có đội quân danh dự và đông đủ quan chức văn võ của D’Argenlieu. Trên đường bay từ vịnh Hạ Long về Hà Nội, tôi thấy Bác rất chăm chú nhìn xuống những vùng mà chiếc thủy phi cơ bay qua, có một lúc Bác quay lại nói rất khẽ với tôi: “Địa hình này không thuận lợi cho du kích chiến, nhưng có quyết tâm và biết cách đánh thì dù khó khăn thế nào, cũng vượt qua được”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói với tướng Salan: “Nếu đô đốc muốn đem tàu bè ra để lung lạc tôi thì ông ta đã lầm to. Những tàu đó không thể nào đi ngược các dòng sông của chúng tôi”1

6, Chiến hạm Dumont d’Urville:

Chiến hạm Dumont d'Urville và buổi lễ đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hải Phòng sau khi con tàu cập cảng Bến Ngự (10/1946)

Chiến hạm Dumont d'Urville là một tàu khu trục hạm lớp Bougainville của Pháp, đã tham gia Thế chiến II và các cuộc chiến tranh thuộc địa, đây là loại hộ tống hạm - thông báo hạm. Tàu được hạ thủy ngày 21/03/1931 tại Bordeaux, Pháp. Chiều dài: 103,7 mét; rộng: 12,9 mét; tốc độ: 17 hải lý/giờ (31 km/h). Sau chiến tranh, tàu được Hải quân Pháp cho loại biên và xử lý phế liệu vào năm 1958. Tàu Dumont d'Urville có một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam khi đã đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số trí thức Việt kiều trẻ tuổi trở về nước sau chuyến thăm Pháp hơn 3 tháng của Người.

Ngày 18/9, chiến hạm Dumont d' Urville kéo còi rời quân cảng Toulon, đưa Bác và một số trí thức Việt kiều về nước là: Phạm Quang Lễ (kỹ sư quân sự), Trần Hữu Tước (bác sĩ), Võ Quý Huân (kỹ sư cơ khí), Võ Đình Quỳnh (kỹ sư mỏ). Lá cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay, lướt sóng tiến lên, để lại phía sau một nước Pháp bất ổn, đầy toan tính chiến tranh... Nhưng có một vấn đề nảy sinh là hầu hết các tuyến đường biển sang Viễn Đông vẫn đặt dưới sự kiểm soát của Hải quân Anh theo quy chế của Đồng Minh đặt ra từ thế chiến II, nên tàu Dumont cũng phải tuân theo luật lệ của Bộ Hải quân Anh. Bác liền yêu cầu kéo cờ hiệu của nguyên thủ quốc gia Việt Nam lên cột cờ. Hạm trưởng điện về xin chỉ thị, Paris đồng ý. Thế là trên tàu phải đi tìm vải may một lá quốc kỳ của ta kéo lên cột cờ. Hồi đó ít người biết đến lá cờ này nên các quan chức hàng hải Anh quốc bối rối đánh tín hiệu hỏi dồn dập: " Quốc kỳ nước nào đấy? Có vị quốc trưởng nào trên tàu chăng? Có phải bắn súng chào theo nghi lễ không?". Con tàu lênh đênh trên đại dương mênh mông, qua Địa Trung Hải, Hồng Hải và nhiều cảng trên hải trình đã bắn súng chào vị nguyên thủ của nước Việt Nam mới. Từ trên chiến hạm, Bác đã điện cho các quan chức, tướng lĩnh Pháp, ngỏ lời cảm ơn sự đón tiếp nhiệt tình trong hơn ba tháng Bác ở thăm nước Pháp. Người cũng điện về nước, gửi lời chào tới các thành viên Chính phủ ta và báo tin tốt về chuyến đi. Trên tàu, các thuỷ thủ đều ngạc nhiên trước sự giản dị và bình dân của một vị Chủ tịch nước. Người thường dành nhiều thời gian để trò chuyện và thăm hỏi hoàn cảnh gia đình từng thuỷ thủ một cách thân tình và vui vẻ. Một người lính công vụ được cử tới phục vụ Người đã sửng sốt báo cáo lại với Hạm trưởng: "Ngài Chủ tịch không có nhiều quần áo lót. Chỉ có đúng 2 áo sơ mi, hai quần đùi, hai đôi tất, hai khăn tay. Chủ tịch nói cứ để Chủ tịch tự giặt lấy cũng được!". Đến bữa ăn, Bác ngồi cùng với Hạm trưởng, Hạm phó và một ông linh mục. Người luôn nói chuyện cởi mở và thẳng thắn về các vấn đề chính trị, đặc biệt là tương lai của Việt Nam là độc lập nhưng vẫn hữu nghị với Pháp. Người cũng ca ngợi hải quân Pháp có những thuỷ binh "xuất thân từ nhân dân lao động". Bác còn sử dụng chiến hạm thành địa điểm đào tạo cấp tốc môn chính trị cho các trí thức Việt kiều yêu nước xin theo Người về nước để xây dựng Tổ quốc. Bài học đầu tiên là công tác vận động quần chúng, nâng cao tinh thần ái quốc mà đối tượng cụ thể bao gồm thuỷ thủ đoàn hơn 100 binh lính, sỹ quan Pháp đang cùng đồng hành. Cứ mỗi lần tàu đi qua một nước châu Phi, Arập hay châu Á là Bác giảng ngay cho anh em một bài về lịch sử- văn hoá- kinh tế của các nước đó. Chiếc chiến hạm chạy khá chậm, vài ngày lại ghé bến sửa chữa và thường bắn tập phô trương sức mạnh của quân đội Pháp. Có những lúc còi tàu rú lên báo động từng hồi, tiếng chân lính chạy rầm rập, tiếng hô khẩu lệnh, thao tác vũ khí lách cách rồi pháo tầm xa, súng phòng không, súng máy bắn loạn xạ. Anh em ta ngơ ngác hỏi nhau xem có chuyện gì, riêng Bác vẫn bình tĩnh, điềm nhiên và ung dung hút thuốc lá rồi mỉm cười bảo: " Người ta thử kiểm tra tinh thần của các chú đấy, các chú có sợ không?"2

7, Chiến hạm Suffren:

Chiến hạm Suffren và vịnh Cam Ranh (1946)

Suffren là một tàu tuần dương hạng nặng của hải quân Pháp, là chiếc đầu tiên của lớp Suffren và đã phục vụ trong chiến tranh thế giới thứ hai. Nó được đặt tên theo Pierre André de Suffren de Saint Tropez, một đô đốc Pháp vào thế kỷ XVIII. Ngày 04/4/1926, tàu được đóng tại xưởng vũ khí Brest và được hạ thủy vào ngày 3/5/1927. Tàu dài 196 m; trọng tải 10.000 tấn; rộng 20 m; tốc độ 32 hải lý trên giờ (36,82 mph và còn có thể mang theo hai thủy phi cơ. Tàu ngừng hoạt động vào năm 1947, được đổi tên thành Océan vào năm 1963 và được sử dụng như một tàu huấn luyện lính tại cảng Toulon trước khi bị tháo dỡ vào năm 1974.

Ngày 18/10/1946, chiến hạm Dumont d'Urville trên hải trình đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số Việt kiều về nước đã ghé vào vịnh Cam Ranh theo lời mời của đô đốc Thierry d' Argenlieu. Trên chiếc thiết giáp hạm Suffren, D' Argenlieu và tướng Morliere gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh để trao đổi về việc thi hành Tạm ước 14-9. Trong buổi tiệc chiêu đãi, viên Đô đốc bố trí Người ngồi giữa y và Morliere rồi đắc ý bóng gió: "Thưa Chủ tịch, Ngài đang bị đóng khung giữa Lục quân và Hải quân đó!". Chủ tịch Hồ Chí Minh thản nhiên cười, trả lời: "Nhưng thưa đô đốc, chính bức hoạ mới làm cho khung tranh có chút giá trị!". Nhiều nhà báo cũng được mời tới dự cuộc họp báo sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu rằng: "Ngài đô đốc và tôi đều có ý kiến chung rằng, các báo Sài Gòn và Hà Nội chỗ này, chỗ khác đã tỏ ra quá căng thẳng. Người ta có thể nói lên sự thật và dĩ nhiên không thể nào luôn luôn tặng hoa cho nhau, nhưng có thể tránh được việc chửi rủa nhau... Phải làm tất cả để chấm dứt cuộc chiến và làm nguội các đầu óc. Tôi tin rằng bằng việc thực hiện một cách trung thực bản Tạm ước, sẽ cải thiện được rất nhiều mối quan hệ giữa chúng ta trong khi chờ đợi cuộc họp vào tháng Giêng tới"3

Ngoài những con tàu kể trên, những nhà nghiên cứu cũng cần tìm hiểu thêm về ba con tàu biển khác mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã từng đi. Tàu thứ nhất, vào tháng 6/1928, Người từ Đức sang Italy, đến cảng Naples lên một con tàu của Nhật Bản (?) với danh nghĩa là một thủy thủ để đi Siam (Thái Lan ngày nay). Tàu thứ hai, vào tháng 12/1929, Nguyễn Ái Quốc từ Siam sang Trung Quốc bằng tàu thủy (?) để chuẩn bị triệu tập hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tàu thứ ba, vào tháng 1/1933, sau khi được tòa án Hồng Kong trả tự do, Nguyễn Ái Quốc đã lên tàu thủy (?) đến Singapore nhưng bị cảnh sát bắt và đưa quay lại Hồng Kong.

1Báo của Bộ Ngoại giao công bố ngày 24/3/2021

2Những câu chuyện còn mãi với thời gian, Nxb Công an nhân dân 2019, tr 64

3Những câu chuyện còn mãi với thời gian, sđd, tr 65