GS, TS MẠCH QUANG THẮNG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã về cõi vĩnh hằng từ ngày 27-4-1998. Sự nghiệp của đồng chí vẫn đang có những người thế hệ sau tiếp nối. Hiện nay, khi đất nước Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, thì sự truyền cảm hứng từ bản lĩnh chính trị, đổi mới sáng tạo của đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh càng mạnh mẽ. Đó chính là sự tiếp nối, sự nhân lên sức mạnh của toàn dân tộc.
Trong 14 “đời” Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, mỗi người trong số họ đều có một đặc tính riêng, mang dấu ấn riêng trong lịch sử của Đảng và lịch sử của dân tộc. Đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có những dấu ấn sâu sắc. Đó là một con người đặc biệt, có bản lĩnh kiên cường, một trí tuệ và hành động luôn đổi mới sáng tạo. Điều này thể hiện ở ba điểm chủ yếu:
1. Là người hoạt động cách mạng từ rất sớm với địa bàn rộng và kinh qua nhiều trọng trách
Đồng chí Nguyễn Văn Linh hoạt động cách mạng sớm, từ năm 14 tuổi, từ Hưng Yên, nhưng địa bàn hoạt động của đồng chí Nguyễn Văn Linh trải rộng dài đất nước, nhiều nhất là địa bàn Hà Nội, Hải Phòng, Nam Bộ, v.v. Còn về chức vụ trong Đảng thì đồng chí làm cán bộ Đảng lăn lộn nhiều ở chiến trường Nam Bộ gian lao trong Trung ương Cục, làm đến chức Ủy viên Bộ Chính trị, ra khỏi rồi lại vào lại Bộ Chính trị, làm Thường trực Ban Bí thư thời khó khăn của “đêm trước đổi mới”, rồi cuối cùng giữ chức vụ cao nhất là Tổng Bí thư, khi thôi chức này thì là một thành viên Ban Cố vấn.
2. Giữ chức Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Linh bắt tay ngay vào việc giải quyết nhiều vấn đề “vướng” trong công tác Đảng
Đầu tiên là giải quyết những hậu quả của tư duy bao cấp, chủ quan, duy ý chí còn lại; sau đó là kích hoạt cho tinh thần phòng - chống tiêu cực trong Đảng và xã hội, mà nổi lên hai điểm đặc sắc nhất:
Một, đưa ông Trần Xuân Bách, Ủy viên Bộ Chính trị, người được Bộ Chính trị phân công phụ trách công tác tư tưởng lý luận của Đảng, ra khỏi Trung ương Đảng (và từ đó dĩ nhiên là ra khỏi Bộ Chính trị) vì ông Trần Xuân Bách có những biểu hiện đi theo quan điểm của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Михаи́л Серге́евич Горбачёв (Mikhaiin Sergêevitrơ Gorbatrov) không phù hợp với đổi mới của Việt Nam. Việc này đồng thời cũng ngăn chặn luôn tư tưởng và hành động của một số không ít người trong Đảng lúc này đang đi theo hướng đó. Và đây cũng là cơ sở để đến Hội nghị Trung ương 6 (3-1989) khóa VI Đảng nêu ra 6 nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới1: 1/ Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu ở nước ta, là sự lựa chọn sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng và nhân dân ta. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà làm cho mục tiêu đó được thực hiện tốt hơn bằng quan niệm đúng đắn, hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp. 2/ Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta (đến năm 1991 tại Đại hội VII, Đảng ta bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào thành “Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” – trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng). Đổi mới vận dụng sáng tạo và phát triển chứ không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin (từ năm 1991 thêm tư tưởng Hồ Chí Minh nữa). 3/ Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, có nghĩa là tăng cường sức mạnh và hiệu lực của các tổ chức trong hệ thống chính trị (từ Hội nghị Trung ương 6, 3-1989 này, văn kiện Đảng dùng khái niệm “hệ thống chính trị” thay cho khái niệm “chuyên chính vô sản” trước đây). 4/ Sự lãnh đạo của Đảng [sau này được viết một cách chặt chẽ hơn là “sự lãnh đạo đúng đắn”] là điều kiện quyết định thắng lợi nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. 5/ Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa. Song dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo phải trên cơ sở dân chủ; dân chủ với nhân dân, nhưng phải chuyên chính với kẻ địch. 6/ Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Hai, đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh khởi phát cho một loạt bài đăng báo Nhân Dân “Những việc cần làm ngay” với bút danh NVL (mà một số người hài hước nói là “Nhảy vào lửa”). Đối với văn nghệ sĩ, đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nêu lên một quan điểm nổi tiếng là “Hãy cứu mình trước khi Trời cứu”, v.v. Có nghĩa là chỉ 5 năm của một nhiệm kỳ Tổng Bí thư, nhất là 3 năm đầu, đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã làm những việc ghi dấu ấn mạnh mẽ vào tâm trí và hành động cho mọi người, “truyền cảm hứng”, “truyền lửa” đổi mới cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Không những thế, nhiệm kỳ đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là thời gian rất đặc biệt của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lúc phong trào này đang khủng hoảng nghiêm trọng; Đảng Cộng sản Liên Xô, vốn được coi là “thành trì” của phe xã hội chủ nghĩa, nay lún rất sâu vào cuộc khủng hoảng toàn diện và đứng trên bờ sụp đổ kéo theo nguy cơ sụp đổ của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa, trực tiếp nhất là các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Lúc hệ thống xã hội chủ nghĩa đang ở vào tình thế “nước sâu lửa nóng”, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã đi Liên Xô gặp Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô bàn về việc ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa nhưng lúc bấy giờ (năm 1989) bức tường Berlin ở Đức đang bị kéo đổ, và cũng là lúc lập trường cải tổ theo kiểu của M.Gorbatrov không thay đổi, Đảng Cộng sản Liên Xô và một số cá nhân cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng do Tổng Bí thư M.Gorbatrov đứng đầu trượt dài không phanh để mất luôn Liên bang Xôviết và chế độ xã hội chủ nghĩa sau hơn 70 năm xây dựng.
Đáng chú ý là trong nhiệm kỳ này, đất nước Việt Nam đang bị các đế quốc và thế lực thù địch bao vây, cấm vận và lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội. Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng đều quá khan hiếm; lạm phát tăng 300% năm 1985 lên 774% năm 1986 (nhiều người dùng hình ảnh là ”tăng tốc độ phi mã”). Các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật, vượt biên trái phép (một số người vượt biên gọi là “thuyền nhân”) diễn ra khá phổ biến. “Đổi mới hay là chết!” đã trở thành khẩu hiệu hành động, thành đòi hỏi bức thiết của tình hình đất nước.
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tình hình thế giới biến chuyển nhanh chóng. Công cuộc cải tổ ở Liên Xô, của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lún vào khủng hoảng toàn diện, nghiêm trọng không gì cứu vãn nổi và dẫn đến sụp đổ hoàn toàn vào tháng 12-1991. Sự sụp đổ đó gây tác động bất lợi nhiều mặt đối với thế giới và Việt Nam. Viện trợ và quan hệ kinh tế giữa Liên Xô và các nước Đông Âu với nước ta bị thu hẹp nhanh, đột ngột. Trên diễn đàn quốc tế, Mỹ và các thế lực thù địch tố cáo quân Việt Nam xâm lược Campuchia, nhằm tiếp tục bao vây, cấm vận, cô lập, tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng còn dung dưỡng các tổ chức phản động người Việt Nam từ nước ngoài trở về nước gây bạo loạn, lật đổ. Điển hình là cuộc hành quân “Đông tiến 1” năm 1986 do Hoàng Cơ Minh cầm đầu từ Mỹ về Việt Nam gây bạo loạn đã bị nhân dân yêu nước Lào phối hợp với Việt Nam đập tan; kết quả là 65 tên bị tiêu diệt, 67 tên bị bắt sống, chỉ còn 15 tên chạy thoát sang Thái Lan.
Cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc ở biên giới đất liền phía Bắc nước ta từ năm 1979 vẫn tiếp diễn. Quân đội Trung Quốc vẫn bắn pháo, gây hấn trên một số vùng biên giới một cách dai dẳng và khốc liệt, nhất là mặt trận huyện Vị Xuyên (thuộc tỉnh Hà Giang). Còn ở biển Đông, tháng 3-1988, Trung Quốc ngang ngược đã cho quân đội chiếm đảo Gạc Ma và các bãi cạn Châu Viên, Chữ Thập, Tư Nghĩa ...trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc vốn căng thẳng từ những năm 1974, 1979 đến thời điểm sau năm 1986 vẫn tiếp tục căng thẳng.
Ở trong nước, đến những năm 1987-1988, khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫn còn tiếp tục diễn ra một cách nghiêm trọng. Lương thực, thực phẩm thiếu thốn, nạn đói xảy ra ở nhiều nơi, lạm phát cao, đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn. Sự dao động về tư tưởng chính trị, giảm sút niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa ngày càng lan rộng. Không còn đường lùi, Đại hội VI của Đảng đã mở ra công cuộc đổi mới đất nước để thoát khỏi tình cảnh bí bách đó. Vấn đề là ở chỗ, phải thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng như thế nào để nhanh chóng cải thiện tình hình. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã cùng Trung ương Đảng tìm nhiều giải pháp hữu hiệu lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện.
Những năm 1987-1988, phân phối, lưu thông vẫn tiếp tục rối ren, xẩy ra tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, lạm phát ở mức cao; sự việc đổi tiền năm 1985 vẫn còn ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của nhân dân và nền tài chính nước nhà. Cộng với do thiên tai, mất mùa nên kỳ giáp hạt năm 1988 nhiều nơi từ miền Trung trở ra rất thiếu đói. Hội nghị Trung ương 2 khóa VI (4-1987) chủ trương đề ra một số biện pháp cấp bách về phân phối lưu thông; trọng tâm là thực hiện bốn giảm: Giảm bội chi ngân sách, giảm nhịp độ tăng giá, giảm lạm phát, giảm khó khăn về đời sống của nhân dân; mở rộng giao lưu hàng hoá, giải thể các trạm kiểm soát hàng hóa trên các đường giao thông; thực hiện cơ chế một giá và chế độ lương thống nhất cả nước; giảm tỷ lệ bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt, tiết kiệm chi tiêu, chống tiêu cực; chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; đổi mới quản lý kinh tế. Quyết định số 217-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (14-11-1987) đã trao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp. Trong đối ngoại, đồng chí Nguyễn Văn Linh cùng với Bộ Chính trị Trung ương Đảng từng bước gỡ các nút khó khăn để thoát khỏi sự bao vây cấm vận và sự thù địch của nhiều thế lực. Điển hình nhất là giải quyết làm “tan băng” quan hệ Việt - Trung và đồng thời giải quyết vấn đề Campuchia, dần lập lại quan hệ bình thường với Đảng Cộng sản, Nhà nước Trung Quốc, giúp lực lượng yêu nước Campuchia khôi phục tình hình sau những cơn kinh hoàng của nạn diệt chủng do bè lũ Pol Pot gây ra Việt Nam rút quân khỏi Campuchia về nước. Đối với Hoa Kỳ, thông qua Chương trình POW/MIA, dần dần ta nối lại quan hệ để chuẩn bị cho bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ.
Cứ thế, từng bước một, với tầm tư duy đổi mới, đồng chí Nguyễn Văn Linh cùng Trung ương Đảng đưa đất nước thoát khỏi những cơn “bĩ cực”, đối phó với những đòn đánh từ những thế lực thù địch trong và ngoài nước và ngay cả những lực cản, sức ỳ trong nội bộ Đảng. Tinh thần cách mạng tiến công, đứng mũi chịu sào của đồng chí Nguyễn Văn Linh là một điểm sáng, một ấn tượng mạnh, rất mạnh của người cộng sản kiên trung, đầy trách nhiệm, bản lĩnh quả cảm.
3. Thời gian của những “đêm trước đổi mới”, đồng chí Nguyễn Văn Linh là một trong những người tích cực nhất lĩnh ấn tiên phong vì công cuộc đổi mới đất nước
Cần khẳng định rằng, người giương cao ngọn cờ cho công cuộc đổi mới là đồng chí Trường Chinh, từ năm 1986 thay đồng chí Lê Duẩn làm Tổng Bí thư khi đồng chí Lê Duẩn từ trần. Đồng chí Trường Chinh là người chuyển một cách ngoạn mục sang tư tưởng đổi mới, một người có “con mắt tinh đời” nhận thấy ở đồng chí Nguyễn Văn Linh đức tính quý báu, bản lĩnh chính trị tuyệt vời, để rồi tiến tới giới thiệu đồng chí Nguyễn Văn Linh trở lại Bộ Chính trị, từ đó giới thiệu để bầu giữ trọng trách Tổng Bí thư tại Đại hội VI, tháng 12-1986. Một con người như đồng chí Nguyễn Văn Linh ra khỏi Bộ Chính trị, về làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh một thời gian, dấn thân vào thực tiễn, trăn trở với sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh và của đất nước, rồi lại vào lại Bộ Chính trị. Như thế đủ thấy tình hình phức tạp như thế nào, và cũng như thế để thấy bản lĩnh, tài năng, sự sáng tạo đổi mới của đồng chí Nguyễn Văn Linh đến mức như thế nào để được thực tiễn chấp nhận. Có thể nói một cách không quá rằng: Đồng chí Trường Chinh cộng với đồng chí Nguyễn Văn Linh là một “cặp bài trùng” của công cuộc đổi mới của Việt Nam. Điều này thì đúng như quan điểm của C. Mác, người thầy của học thuyết Chủ nghĩa xã hội khoa học, đã nêu là: “Mỗi thời đại xã hội đều cần có những con người vĩ đại của nó và nếu không có những con người vĩ đại như thế thì thời đại sẽ sáng tạo ra những con người như thế”2.
Trên đây mới chỉ là những nội dung có tính “phác thảo”, nhưng chỉ như vậy thôi cũng đủ thấy ở đồng chí Nguyễn Văn Linh là một con người đáp ứng được yêu cầu của thời cuộc. Thời cuộc sinh ra đồng chí đó và cũng chính đồng chí đó là một nét khảm tốt đẹp vào những năm đầy sóng gió trong lịch sử oai hùng của Đảng và của đất nước. Những thành quả của gần 4 thập niên đổi mới để rồi đất nước chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên vươn mình cho độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, cho hạnh phúc, cho sự hùng cường của đất nước, mong sánh vai với các cường quốc năm châu, có dấu ấn không phai mờ của đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Hầu hết các danh nhân trên thế gian này đều có một cuộc đời đầy trắc trở, đầy gian nan, khổ ải. Nếu sống trên nhung lụa thì chẳng rèn được đức - tài. Cuộc đời đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là thế. Từ cuộc sống người tù, rồi sau đó bị đày ra tù ngục ở Côn Đảo dưới chế độ hà khắc của địa ngục trần gian. “Một ngày tù bằng nghìn thu ở ngoài” – đó là giá trị của tự do. Thoát khỏi ngục tù là được tự do; đồng thời cái quý nhất là tự do về trí tuệ, của tư duy cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đưa ra những quyết sách hợp tình hình đất nước và xu thế thời đại. Đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là người như thế, với vẻn vẹn 5 năm một nhiệm kỳ nhưng đó là thời gian có đất “dụng võ”, sải cánh chim bằng cho một tư duy mới về đổi mới và phát triển. Đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là người cộng sản thủy chung với cách mạng, với đồng chí, đồng bào. Nhận trọng trách từ người “lĩnh già” Trường Chinh và từ Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã góp phần làm rạng rỡ Đảng và đất nước Việt Nam.
Thế hệ những người trên mặt trận lý luận tư tưởng của Đảng hiện nay và mai sau chắc chắn vẫn theo gương sáng của đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh để cống hiến. Thời nay khác xa thời của đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, nhưng vẫn còn đó những tình thần chung nhất: Thời luôn luôn sáng tạo và phát triển, không chịu cảnh ù lì, trì trệ. Đó là thời kỳ luôn trau dồi phẩm chất cách mạng, rèn năng lực, khát khao tri thức và có chí tiến thủ. Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng còn nhiều thách thức gay gắt, đòi hỏi cố gắng hơn nữa, phải không ngừng đổi mới, tập trung vào 4 đột phá với “bộ tứ trụ cột” mà Bộ Chính trị khóa XIII này đã nêu: 1/ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; 2/ Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24-01-2025 về chủ động hội nhập quốc tế trong tình hình mới; 3/ Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04-5-2025 về phát triển kinh tế tư nhân; 4/ Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30-4-2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Những thách thức trong nước và ngoài nước đan xen, tạo sức ép lớn, buộc cách mạng Việt Nam phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách làm và mô hình phát triển. Nói theo đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm hiện nay thì phải cần một cuộc cải cách toàn diện, sâu sắc và đồng bộ, với những đột phá mới về thể chế, cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng và tổ chức bộ máy. Chỉ có như vậy mới giúp đất nước ta vượt qua thách thức, nắm bắt thời cơ và hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững trong thời kỳ mới. Đại hội VI của Đảng năm 1986 chính thức mở ra công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu của chủ nghĩa xã hội với vai trò của bản lĩnh, trí tuệ Đảng và của cá nhân đồng chí Nguyễn Văn Linh. Lần này là trước cơ hội mới của quá trình mở đầu kỷ nguyên mới, cần nhiều bản lĩnh, tinh thần, trí tuệ tấm gương như đồng chí Nguyễn Văn Linh hơn nữa!
Kiên định, kiên định và kiên định mục tiêu và con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Sáng tạo, sáng tạo và sáng tạo hơn nữa để đưa đất nước bứt phá, phát triển thật nhanh và bền vững. Bài viết này cũng là một nén tâm nhang dâng lên tưởng nhớ đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nhân dịp kỷ niệm 110 năm Ngày sinh của đồng chí (1/7/1915 – 1/7/2025). 110 năm cũng là một dấu mốc đáng để ghi nhớ - ghi nhớ đến công lao của đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, ghi nhớ để hành động vì cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc của nhân dân mà các thế hệ trước đã xây dựng và các thế hệ sau tiếp nối!
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tập 49, tr.591.
[2] C.Mác – Ph. Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962, tập 1, tr. 284.