TS LÊ THỊ HẰNG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Đồng chí Trần Đăng Ninh (1910-7/10/1955) là một trong những cán bộ lãnh đạo tiền bối có nhiều đóng góp quan trọng cho Đảng và cách mạng Việt Nam. Tham gia cách mạng từ sớm, hai lần bị địch bắt tù đày và vượt ngục thành công, sau đó giữ chức vụ quan trọng trong Xứ ủy Bắc Kỳ và Trung ương Đảng, đồng chí đã tham gia xây dựng, hoàn thiện đường lối chiến lược của Đảng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, góp phần đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
1. Tham gia xây dựng đường lối chiến lược của Đảng, chuẩn bị tiến lên đấu tranh giành chính quyền
Đồng chí Trần Đăng Ninh (tên khai sinh là Nguyễn Tuấn Đáng) sinh năm 1910, tại thôn Quảng Nguyên, xã Quảng Phú, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội). Sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản, tích cực tham gia phong trào đấu tranh yêu nước, tháng 7-1936, Nguyễn Tuấn Đáng được được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và lấy tên là Trần Đăng Ninh.
Với những hoạt động sôi nổi trong phong trào đấu tranh dân chủ, giữa năm 1940, đồng chí được cử tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ, giữa lúc phong trào đấu tranh cách mạng ở Bắc Kỳ đang có chuyển biến tích cực từ sau thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11 - 1939 về thay đổi chỉ đạo chiến lược và phương pháp cách mạng trong tình hình mới.
Tháng 9-1940, khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ. Giữa lúc Ban Chỉ huy khởi nghĩa đang tìm cách đối phó với sự trở lại đàn áp của thực dân Pháp, Xứ uỷ Bắc Kỳ kịp thời cử đồng chí Trần Đăng Ninh lên tăng cường lãnh đạo khởi nghĩa Bắc Sơn. Giữa tháng 10-1940, Ban Chỉ huy Khu du kích Bắc Sơn được thành lập do đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách. Đồng chí đã cùng Ban Chỉ huy đưa ra chủ trương: Tập trung đảng viên và một số quần chúng tích cực, thu thập vũ khí để thành lập đội du kích Bắc Sơn đầu tiên. Ngày 28 - 10 - 1940, đồng chí Trần Đăng Ninh tuyên bố thành lập “Đội du kích Bắc Sơn” sau này phát triển thành Việt Nam Cứu quốc quân - lực lượng vũ trang đầu tiên do Đảng tổ chức và lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã mở đầu thời kỳ sử dụng các hình thức bạo lực cách mạng, đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, nổi dậy của quần chúng kết hợp với tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng, đánh đổ đế quốc và phong kiến, chuẩn bị tiến lên giành chính quyền.
Sau khi Nhật nhảy vào Đông Dương (9-1940), chính quyền thuộc địa của Pháp đã đầu hàng và câu kết với quân đội phát xít Nhật, liên tục mở các cuộc khủng bố, đàn áp Đảng Cộng sản và phong trào cách mạng. Hầu hết các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó có Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã bị địch bắt, hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phương bị địch phá vỡ. Trước tình hình phong trào cách mạng thiếu bộ chỉ huy, lãnh đạo thống nhất, các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phan Đăng Lưu và Trần Đăng Ninh đã tổ chức Hội nghị Trung ương Đảng (tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, từ ngày 6 - 11 đến ngày 11 - 11 - 1940).
Bám sát chủ trương từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939, Hội nghị đã phân tích sâu sắc những biến chuyển mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước: Trên thế giới chiến tranh giữa các nước đế quốc đã chuyển thành chiến tranh đế quốc chống Liên Xô. Trong nước, phát xít Nhật đã nhảy vào miền Bắc Việt Nam cùng thực dân Pháp áp bức, bóc lột nhân dân ta và nhân dân Đông Dương, mâu thuẫn giữa chúng và toàn thể dân tộc Việt Nam càng trở nên gay gắt. Trên cơ sở đường lối chiến lược, nhiệm vụ cách mạng, Hội nghị ra Nghị quyết nêu rõ: Tình thế hiện tại không thay đổi gì tính chất cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương. Tuy lúc này chúng ta chưa đứng trước một tình thế trực tiếp cách mạng nhưng một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Vì vậy, “Đảng phải chuẩn bị để giành lấy cái sứ mệnh thiêng liêng, lãnh đạo các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập”1. Hội nghị đặt vấn đề trước mắt là nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc; thành lập “Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế”; đưa vấn đề khởi nghĩa vũ trang vào chương trình nghị sự của Đảng.
Sau khi nghe đồng chí Trần Đăng Ninh báo cáo về cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Hội nghị ra quyết định: Tập trung duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những đội du kích, dùng hình thức vũ trang công tác, xây dựng cơ sở cách mạng, khi cần thiết thì chiến đấu chống địch khủng bố, tiến tới thành lập căn cứ du kích, lấy vùng Bắc Sơn, Võ Nhai làm trung tâm, do Trung ương trực tiếp chỉ đạo. Đồng chí Hoàng Văn Thụ chịu trách nhiệm thực hiện Nghị quyết này.
Đối với đề nghị của Xứ ủy Nam Kỳ, sau khi nghe đồng chí Phan Đăng Lưu trình bày bản báo cáo chi tiết, Hội nghị chỉ thị cho Xứ uỷ Nam Kỳ đình chỉ khởi nghĩa vũ trang ở Nam Bộ vì chưa hội tụ đủ điều kiện chủ quan và khách quan bảo đảm giành thắng lợi. Đồng chí Phan Đăng Lưu, Ủy viên Trung ương Đảng được giao nhiệm vụ truyền đạt chủ trương này của Trung ương đến Đảng bộ Nam Kỳ2. Hội nghị cũng quyết định chắp mối liên lạc với Quốc tế Cộng sản và bộ phận của Đảng ở nước ngoài.
Về vấn đề thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất, tiếp nối tinh thần Hội Nghị Trung ương tháng 11 - 1939 về thống nhất lực lượng dân tộc là điều kiện cốt yếu để đánh đổ đế quốc Pháp, Nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 11 - 1940 làm rõ hơn “Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế là sự liên minh giữa các lực lượng cách mệnh phản đế không phân biệt giai cấp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo, mục đích là thực hiện thống nhất hành động giữa các lực lượng ấy đặng tranh đấu tiến lên vũ trang bạo động đánh đổ đế quốc Pháp, Nhật và các lực lượng phản động ngoại xâm và các lực lượng phản bội quyền lợi dân tộc làm cho Đông Dương được hoàn toàn giải phóng”3. Bên cạnh đó, Hội nghị chỉ rõ hạn chế chủ yếu của công tác Mặt trận bấy giờ là từ khi Đảng ta chủ trương lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương thì nhiều nơi lại xao nhãng việc tổ chức Công hội và Nông hội, chỉ chú trọng tổ chức Hội Phản đế cứu quốc.
Cùng với các quyết định trên, Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1940 đã ra Thông báo khẩn cấp về quyết định duy trì và phát triển đội du kích Bắc Sơn. Trước mắt, đội du kích Bắc Sơn chuyển từ hoạt động quân sự sang hoạt động chính trị, phát triển cơ sở cách mạng, tạo điều kiện thành lập căn cứ địa du kích Bắc Sơn - Võ Nhai, Quyết định của Hội nghị có đóng góp rất lớn từ báo cáo của đồng chí Trần Đăng Ninh về khởi nghĩa Bắc Sơn và đề xuất chủ trương xây dựng căn cứ địa, duy trì đội du kích và tiếp tục chiến tranh du kích.
Về tình hình Đảng, Hội nghị khẳng định muốn cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương thắng lợi, thì “giai cấp vô sản Đông Dương phải giữ quyền lãnh đạo cách mạng… phải luôn luôn hết sức củng cố và mở rộng Đảng”4. Trước yêu cầu cấp thiết phải có Ban lãnh đạo cao nhất của Đảng, với trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm đối với sự nghiệp cách mạng, Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương (do đồng chí Trường Chinh làm Quyền Tổng Bí thư), đánh dấu sự tái lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chấm dứt thời gian gần một năm phong trào cách mạng không có sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương Đảng.
Dù số đại biểu tham dự Hội nghị chỉ có 5 người, với tư cách là đại biểu chính thức, đồng chí Trần Đăng Ninh đã có những đóng góp quan trọng vào thành công của Hội nghị. Những quyết định được đưa ra tại Hội nghị đặt tiền đề, cơ sở lý luận cho Hội nghị Trung ương lần thứ tám tháng 5-1941, do Hồ Chí Minh chủ trì, hoàn thiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc.
Tháng 12-1940, các đồng chí Trung ương lâm thời và Xứ ủy Bắc Kỳ họp tại chùa Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh), chọn người cử đi dự Hội nghị Trung ương lần thứ tám gồm các đồng chí: Hoàng Văn Thụ, Công, Nguyễn Thành Diên và Trần Đăng Ninh. Tuy bị ốm dọc đường, không thể tham dự Hội nghị, nhưng với uy tín và những đóng góp của mình, đồng chí Trần Đăng Ninh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, là Ủy viên dự khuyết5.
2. Trên cương vị lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ và Trung ương Đảng triển khai, cụ thể hóa đường lối chiến lược của Đảng
Khi các đồng chí Xứ ủy Bắc Kỳ dự Hội nghị Trung ương lần thứ tám, một Xứ ủy lâm thời được chỉ định, do đồng chí Đào Duy Kỳ làm Quyền Bí thư. Sau khi bị ốm, không tiếp tục hành trình tới dự Hội nghị, trở về hoạt động trong Ban Thường vụ Xứ ủy tháng 6-1941, đồng chí Trần Đăng Ninh tham dự Hội nghị Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ mở rộng ở xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, do đồng chí Đào Duy Kỳ triệu tập. Tại Hội nghị này, đồng chí Trần Đăng Ninh đã kiên quyết đấu tranh chống một số khuynh hướng sai lầm trong Xứ ủy như chủ trương quân sự hóa Đảng; lập “Tòa án quân sự cách mệnh” và “Ban ám sát” để thủ tiêu những kẻ phản bội và tất cả những kẻ có hành động có hại cho Đảng; nêu cao vấn đề bảo vệ tổ chức của Đảng.
Sau Hội nghị Trung ương lần thứ tám, Thường vụ Trung ương tổ chức cuộc họp với Xứ ủy Bắc Kỳ ở làng Đông Lĩnh (Đoan Hùng, Phú Thọ), nhằm uốn nắn sai lầm của Xứ ủy, đình chỉ công tác của đồng chí Đào Duy Kỳ - Quyền Bí thư Xứ ủy. Tháng 7-1941, Xứ ủy Bắc Kỳ được bầu lại, đồng chí Trần Đăng Ninh - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng được cử là Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ6. Trên cương vị mới, đồng chí tập trung chỉ đạo phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương tám của Đảng và đường lối, chính sách của Mặt trận Việt Minh; phổ biến kinh nghiệm chống địch khủng bố; động viên cán bộ, đảng viên tiếp tục xây dựng cơ sở cách mạng, chuẩn bị điều kiện cần thiết cho cuộc đấu tranh giành chính quyền.
Cũng trong tháng 7 -1941, đồng chí Trần Đăng Ninh chủ trì Hội nghị Tỉnh ủy Hà Đông họp tại làng Đông Trạch, huyện Thanh Trì7. Đồng chí đã phát biểu ý kiến đánh giá tình hình và triển vọng của phong trào cách mạng, phổ biến kinh nghiệm chống địch khủng bố; động viên cán bộ, đảng viên và chỉ ra những định hướng cho phong trào cách mạng của tỉnh Hà Đông.
Từ ngày 25 đến ngày 27-9-1941, đồng chí Trần Đăng Ninh tham dự Hội nghị cán bộ toàn Xứ ủy Bắc Kỳ ở làng Dương Húc (Đại Đồng, Tiên Du, Bắc Ninh) của Xứ ủy Bắc Kỳ do đồng chí Trường Chinh chủ trì. Hội nghị đặt lên hàng đầu công tác củng cố nội bộ Đảng, coi đó là công tác vô cùng khẩn cấp. Xét về nguyên nhân thiếu cán bộ mà Liên uỷ phần đông chỉ hữu danh vô thực, Hội nghị chủ trương “duy trì Liên uỷ A (vì liên A là một liên quan trọng, công nhân tập trung, cơ sở cách mạng rộng rãi) và thủ tiêu các Liên uỷ khác. Các Tỉnh uỷ sẽ do Xứ uỷ trực tiếp chỉ huy. Đảng bộ tỉnh nào mà cơ sở còn hẹp chưa đủ điều kiện thành lập một Tỉnh uỷ, không được tự ý thành lập một Tỉnh uỷ lâm thời. Xứ uỷ sẽ giao cho một Huyện uỷ nào mạnh nhất trong tỉnh hay một Tỉnh uỷ lân cận chỉ huy Tỉnh đảng bộ”8. Từ cuối năm 1941, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Xứ ủy Bắc Kỳ bắt đầu xây dựng các An toàn khu tập trung quanh Hà Nội.
Tháng 11- 1941, đồng chí Trần Đăng Ninh bị thực dân Pháp bắt, giam cầm tại nhiều nhà tù khác nhau (từ tháng 11 - 1941 tới tháng 3 - 1945). Ngày 11-3-1945, đồng chí Trần Đăng Ninh vượt ngục trở về hoạt động cách mạng.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương (9 - 3 - 1945), tình thế cách mạng ngày càng khẩn trương. Nhằm giải quyết vấn đề quân sự, đẩy cao trào kháng Nhật cứu nước lên cao và lan rộng ra cả nước, tháng 4-1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì tổ chức tại Hiệp Hòa (Bắc Giang). Đồng chí Trần Đăng Ninh đã tham dự và từ kinh nghiệm tổ chức Đội du kích Bắc Sơn, căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, đồng chí đóng góp nhiều ý kiến quan trọng về chiến tranh du kích và căn cứ địa. Hội nghị đã phân tích triển vọng của Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào cách mạng thế giới, những mặt mạnh, mặt yếu của phong trào cách mạng trong nước và chỉ rõ “Chúng ta đang ở vào giai đoạn chiến lược “Phát động du kích” để phát động Tổng khởi nghĩa”9, từ đó cần “đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này”10. Hội nghị quyết định thành lập 7 chiến khu trên toàn quốc (Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Trần Hưng Đạo ở Bắc Bộ; Trưng Trắc, Phan Đình Phùng ở Trung Bộ; Nguyễn Tri Phương ở Nam Bộ) và xác định rõ nhiệm vụ cho từng chiến khu. Hội nghị thống nhất việc củng cố và phát triển bộ đội chủ lực; hợp nhất Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân với Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân, là Quân đội cách mạng của cả nước, có tổ chức biên chế và nguyên tắc chỉ huy thống nhất. Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban Quân sự Bắc Kỳ (tức Bộ chỉ huy Việt Nam Giải phóng quân miền Bắc Đông Dương) gồm các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh,... có trách nhiệm và quyền hạn: chỉ huy các chiến khu miền Bắc Đông Dương về mặt chính trị và quân sự, đồng thời có nhiệm vụ giúp đỡ toàn quốc về mặt quân sự. Tháng 5-1945, khi thống nhất Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Việt Nam Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân, đồng chí Trần Đăng Ninh được cử tham gia Bộ Tư lệnh đầu tiên của Việt Nam Giải phóng quân.
Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ đánh dấu bước phát triển mới về tư tưởng và lý luận quân sự của Đảng Cộng sản Đông Dương, cụ thể hóa những vấn đề quân sự mà Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng (từ ngày 9 đến ngày 12 - 3 -1945) nêu ra trong Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” về nhiệm vụ, công tác quân sự, cũng như chỉ ra những biện pháp cụ thể để thực hiện Chỉ thị đó, nhằm đẩy mạnh việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước.
Khi nhận được thông tin Nhật sẽ đầu hàng Đồng minh, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc gồm 5 đồng chí: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh và Chu Văn Tấn, do đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư, trực tiếp phụ trách Ủy ban. Ngay trong đêm ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa. Quân lệnh số 1 ra đời đã đáp ứng đúng yêu cầu bức thiết của cách mạng và đáp ứng đúng nhu cầu, nguyện vọng của quần chúng nhân dân; đã tạo ra một sức mạnh tinh thần to lớn, huy động toàn dân tham gia tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Ngày 14-8-1945, Trần Đăng Ninh tham dự Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc tại Tân Trào (Tuyên Quang). Hội nghị chỉ rõ cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới. Từ đó, quyết định phát động toàn dân tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ phát xít Nhật và tay sai, trước khi quân Anh và quân Trung Hoa Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch vào Đông Dương tước khí giới quân Nhật và trước khi quân Pháp đưa lực lượng trở lại xâm lược nước ta. Để bảo đảm lãnh đạo tổng khởi nghĩa thắng lợi, Hội nghị đề ra 3 nguyên tắc: 1. Tập trung: tập trung lực lượng vào những việc chính; 2. Thống nhất: thống nhất mọi phương diện, chính trị, hoạt động chỉ huy; 3. Kịp thời: kịp thời hành động không bỏ lỡ thời cơ. Ngoài việc quyết định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là lãnh đạo toàn quân, toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, Hội nghị còn đề ra những chủ trương quan trọng về đối nội, đối ngoại: thông qua và ban hành 10 chính sách của Việt Minh; phải triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp, Anh, Mỹ, Tưởng đánh tan âm mưu của thực dân Pháp âm mưu trở lại xâm lược nước ta và âm mưu của Tưởng Giới Thạch biến nước ta thành “một nước chư hầu”.
Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng đã đề ra chủ trương khởi nghĩa kịp thời, đề ra kế hoạch khởi nghĩa đúng đắn và biểu thị sự đoàn kết nhất trí cao của toàn Đảng, toàn dân trong giờ phút quyết định. Những quyết sách quan trọng trong Hội nghị để lại những bài học kinh nghiệm quý báu về xác định đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn và phương pháp cách mạng thích hợp của Đảng; về dự báo thời cơ, nắm chắc thời cơ, không bỏ lỡ thời cơ; về xây dựng lực lượng cách mạng, từ lực lượng chính trị đến lực lượng quân sự, huy động được lực lượng của toàn dân vào cuộc đấu tranh chung; về khởi nghĩa từng phần đi đến tổng khởi nghĩa toàn quốc để giành thắng lợi hoàn toàn cho một cuộc cách mạng.
Như vậy, với kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo phong trào đấu tranh, với tư duy lý luận sắc sảo, sự nhạy bén trong đánh giá tình hình, trên cương vị là một trong những cán bộ lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, của Trung ương Đảng, đồng chí Trần Đăng Ninh đã tham gia tích cực và có những đóng góp quan trọng đối với việc xây dựng, hoàn thiện đường lối chiến lược của Đảng. Sau Đại hội quốc dân Tân Trào, đồng chí Trần Đăng Ninh tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, tự do; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập 7, tr. 58
2 Đồng chí Phan Đăng Lưu được giao trách nhiệm truyền đạt chủ trương này đến Xứ ủy Nam Kỳ. Tuy nhiên, khi đồng chí Phan Đăng Lưu về đến Sài Gòn thì bị địch bắt, lệnh khởi nghĩa đã được ban hành, không kịp hoãn.
3,4, 8, 9, 10 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 7, tr. 60, 71, 187, 394, 391
5 Tiểu sử đồng chí Trần Đăng Ninh, Báo Nhân dân, ngày 8-10-1955; Theo Hồ sơ cán bộ do Trung ương quản lý, Phông 06 (Đại hội 2) - Mục lục 01 - đơn vị bảo quản 44, trang 47-49, Hồ sơ cán bộ đồng chí Trần Đăng Ninh, Lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng và Hồ sơ tặng thưởng Huân chương Sao vàng cho đồng chí Trần Đăng Ninh (Tóm tắt tiểu sử và thành tích đề nghị tặng thưởng Huân chương Sao vàng của Tổng cục Hậu Cần; Tờ trình số 259-TTr/BTCTW ngày 07-10-2008 của Ban Tổ chức Trung ương về việc điều chỉnh lên Huân chương Sao vàng; Tờ trình của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, số 1931/Ttr-BTĐKT ngày 16-12-2008 về việc điều chỉnh mức truy tặng và tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Quyết định số 138/QĐ-CTN ngày 21-01-2009 về việc điều chỉnh mức truy tặng từ Huân chương Độc lập hạng nhất lên Huân chương Sao vàng của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký), Tài liệu sao từ Phông Chủ tịch nước, Hồ sơ số 3448, tờ số 27-28, tờ số 3132, tờ số 1 đều khẳng định đồng chí là Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ; Theo cuốn Trần Đăng Ninh - Con người và lịch sử, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996, tr.17, đồng chí Trần Đăng Ninh được cử vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời từ Hội nghị Trung ương tháng 11-1940. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám, đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ (tháng 7-1941); Xem: Xây dựng cơ quan lãnh đạo cấp trung ương, xứ ủy của Đảng thời kỳ 1930-1945, Nxb CTQG, Hà Nội, 2014, tr.183
6 Huân chương Sao Vàng truy tặng đồng chí Trần Đăng Ninh ghi: Truy tặng đồng chí Trần Đăng Ninh (Nguyễn Tuấn Đáng), Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ (1941-1948), Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương Đảng (1948-1950) đã có công lao to lớn đặc biệt xuất sắc, đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, do Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, ký ngày 21-1-2009, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III;
Theo Hồ sơ cán bộ do Trung ương quản lý, Hồ sơ cán bộ của đồng chí Trần Đăng Ninh, Phông 06 (Đại hội II) - Mục lục 01 - đơn vị bảo quản 44, trang 47- 49, Lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng và Lý lịch cán bộ của đồng chí Trần Đăng Ninh do gia đình cung cấp, đồng chí Trần Đăng Ninh được bầu là Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ tháng 7-1941
7 Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thanh Trì: Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Trì (1930-2010), Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tr.28.