TS PHẠM MINH THẾ
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tự học, tự đào tạo là một phương pháp giáo dục, đào tạo đã hình thành từ lâu trong lịch sử giáo dục của nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng. Phương pháp này đã giúp hình thành nhiều nhân tài, danh nhân trong lịch sử dân tộc. Cho nên tự học, tự đào tạo là một phương pháp học tập, rèn luyện cơ bản, quan trọng, thường được quán triệt, răn dạy ở Việt Nam trong suốt diễn trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là một tấm gương sáng về tinh thần tự học, tự đào tạo. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người cũng đã nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phải tự học, tự đào tạo. Bài viết ngắn này của tôi sẽ làm sáng tỏ thêm một số khía cạnh về tinh thần, tấm gương tự học, tự đào tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và rút ra một số bài học cho việc giáo dục tinh thần tự học và tự đào tạo cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau./.
1. Tấm gương tự học, tự đào tạo và rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhìn lại lịch sử của quốc gia dân tộc có thể thấy, việc giáo dục, đào tạo nhân tài của đất nước được tiến hành bởi nhiều cách, và con đường trở thành nhân tài của các nhân vật kiệt xuất cũng đa dạng, không đồng nhất bởi bối cảnh sinh thành, sinh tồn và trưởng thành của mỗi người là khác nhau. Tuy thế thì có thể thấy, tự học, tự đào tạo là con đường trở thành nhân tài của đa số các nhân vật kiệt xuất. “Có nhiều nhân tài xuất hiện dường như hoàn toàn “tự phát” - bởi lẽ họ là sản phẩm của quá trình tự đào tạo”1 và Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương điển hình. Từ thực tiễn cuộc đời, hành trạng và sự nghiệp của Người có thể thấy, tài năng và đức độ của vị lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh, ngoài việc được giáo dục, đào tạo từ gia đình và nhà trường thì phần lớn được hình thành từ quá trình tự học, tự đào tạo, tự rèn luyện của Người. Điều này được thể hiện trong nhiều câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người.
Sinh ra trong bối cảnh nước mất, nhà nghèo lại gặp nhiều biến cố ngay từ nhỏ, thường phải sống phiêu dạt xa quê nên đã sớm hình thành trong con người Hồ Chí Minh tinh thần tự học, tự đào tạo, tự rèn luyện. Biên niên tiểu sử của Người cho biết, Người sinh ra tại làng Hoàng Trù (quê ngoại) năm 1890, và là con thứ ba của cụ Nguyễn Sinh Sắc. Khi Người lên 3 tuổi (1893) thì đã gặp biến cố đầu tiên, ông ngoại của Người - cụ Hoàng Xuân Đường qua đời. Năm 1894 thì cha của Người - cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ cử nhân. Sau đó, năm 1895, Người đã cùng mẹ và anh trai (Nguyễn Sinh Khiêm) theo cha vào Huế sinh sống. Năm 1898 thì Người bắt đầu được cha dạy Hán học. Năm 1900, mẹ của Người sinh thêm em, thường gọi là “bé Xin”. Lúc này, cha Người đã ra Thanh Hóa làm giám thị kỳ thi Hương và đưa cả anh Khiêm đi cùng. Ở Huế chỉ còn ba mẹ con. Em của Người - bé Xin sinh ra quá yếu nên đã mất sau khi sinh được ít lâu. Đây là biến cố thứ hai mà Người phải gánh chịu khi mới 10 tuổi. Em mất, mẹ của Người cũng đau ốm. Tháng 2/1901, mẹ của Người cũng mất tại Huế. Và đây là biến cố đau đớn thứ ba mà Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh phải gánh chịu khi mới 11 tuổi2. Em mất, mẹ mất, cha và anh, chị đều ở xa, cậu bé Nguyễn Sinh Cung phải chịu nỗi đau tang tóc ấy một mình. Những sự kiện này cho thấy, việc học của Nguyễn Ái Quốc từ cha cũng bị gián đoạn trong khoảng thời gian ông rời Huế ra Thanh Hóa và Người tự học trên cơ sở sách vở của cha để lại là chủ yếu. Đồng thời, những biến cố quá lớn trong những năm 1890 - 1901 đã tạo lập cho Người ý chí tự rèn luyện, tự vươn lên để vượt qua khó khăn. Điều này thể hiện ở câu chuyện Người đã kiên trì sửa chữa cái diều mà Người cùng đám bạn cùng làng đã làm khi được cha đón về quê Kim Liên sau khi mẹ mất. “Có lần Nguyễn Tất Thành làm chung cùng các bạn trong làng một cái diều sáo. Làm xong đem thả, diều không lên. Sửa mấy cũng không được, các bạn nản chí bàn phá đi làm lại cái khác. Nguyễn Tất Thành không nghe theo các bạn và tiếp tục sửa chữa. Đến khi diều tung gió bay cao, các bạn hỏi về cách sửa chữa, Nguyễn Tất Thành chỉ vẽ cho các bạn và bảo: “Cứ kiên trì chịu khó là được””3.
Ngoài ra, việc tự học, tự đào tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được khởi nguồn từ định hướng, phương pháp giáo dục của phụ thân Người - Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Điều này được thể hiện ở việc cụ Nguyễn Sinh Sắc đã luôn tạo điều kiện cho Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tiếp xúc với các nhân sĩ có tinh thần yêu nước, chống Pháp để tự học hỏi, chiêm nghiêm về con đường cứu nước. Biên niên tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết, ngoài việc trực tiếp dạy Hán học cho con, cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng thường gửi Nguyễn Sinh Cung (tức Hồ Chí Minh) cho các thầy đồ khác dạy dỗ như Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý, Trần Thân… Trong đó, dịp học ở nhà thầy Vương Thúc Quý ngày tại làng Kim Liên là dịp mà Nguyễn Ái Quốc có nhiều điều kiện để tự học hỏi, tự chiêm nghiệm về con đường cứu nước. “Vương Thúc Quý ở trong làng Kim Liên. Thầy Vương Thúc Quý là người con độc nhất của tú tài Vương Thúc Mậu, lãnh tụ phong trào Cần Vương của huyện Nam Đàn, người đã hy sinh trong cuộc càn quét của giặc Pháp tại Kim Liên. Mang nặng nợ nước thù nhà, thầy Quý tuy đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan mà ở nhà mở trường dạy học và cùng các sĩ phu yêu nước trong vùng âm mưu chống Pháp. Nhà thầy Quý là nơi các sĩ phu yêu nước thường lui tới, trong đó có các ông Phan Bội Châu, Đặng Thái Thân... Những hôm nhà có khách, Nguyễn Tất Thành thường được thầy Quý lưu lại giúp đun nước, pha trà... Nhờ đó, Nguyễn Tất Thành được nghe nhiều chuyện qua các buổi luận bàn thời cuộc của các sĩ phu yêu nước”4.
Có ý muốn cho con được gặp gỡ các nhân sĩ yêu nước mà học hỏi, chiêm nghiệm cho nên khi dạy học ở quê nhà cũng như sau này, khi đến một số địa phương để dạy học như xã Võ Liệt, Thanh Chương (Nghệ An), xã Đức Đồng, Đức Thọ (Hà Tĩnh), huyện Kiến Xương (Thái Bình) cụ Nguyễn Sinh Sắc cũng đều cho Nguyễn Ái Quốc đi cùng. “Tài liệu dân gian cho biết rằng những lúc Phan Bội Châu và các bạn tới nhà cùng cụ Nguyễn Sinh Sắc bàn chuyện quốc sự, cậu bé Nguyễn Tất Thành (tên khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh - PMT) thường đứng bên hầu trà, và “Cậu” đã được chứng kiến cái thế bế tắc của các bậc tiền bối. Đó cũng là một yếu tố ít nhiều hun đúc ý chí của Tất Thành”5. Được tiếp xúc và lắng nghe các vị tiền bối cha anh bàn bạc về con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tự có những cảm nghĩ, đánh giá về con đường cứu nước của họ. Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”6.
Không chỉ dạy cho con học Hán học, mà với nhãn quan sắc bén của mộ trí thức, cụ Nguyễn Sinh Sắc cùng đã sớm định hướng cho con mình tiếp xúc với văn minh phương Tây. Tháng 9/1905: “Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được ông Nguyễn Sinh Huy xin cho theo học lớp dự bị (Préparatoire) Trường Tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh, cách Kim Liên khoảng 14km. Hai anh em trọ ở một gia đình nghèo mạn Cầu Rầm (Vinh) và chiều thứ bảy thường đi bộ về thăm nhà, sáng thứ hai lại xuống Vinh. Chính tại trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp xúc với khẩu hiệu: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”7. Nhưng ngay việc học của Nguyễn Ái Quốc ở trường này bị gián đoạn, vì cuối năm đó Người lại cùng anh trai theo cha vào Huế khi cụ Nguyễn Sinh Sắc nhận chức Thừa biện Bộ Lễ tháng 6/1906. Và tháng 9/1906, Người lại được cha mình xin cho vào học “lớp dự bị (Cours préparatoire) tại Trường Tiểu học Pháp - Việt tỉnh Thừa Thiên1). Trường đặt trước cổng thành Đông Ba và xây trên nền của đình chợ Đông Ba ngày xưa nên nhân dân quen gọi là Trường Đông Ba. Trường dạy cả ba thứ chữ: chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và chữ Hán. Ngoài việc học ở nhà trường, Nguyễn Tất Thành còn nhờ người mượn sách ở Lầu tàng thư (nơi lưu trữ sách và các loại văn thư của triều Nguyễn) về đọc”8. Tháng 9/1907, “Nguyễn Tất Thành vào học lớp sơ đẳng (Cours élémentaire)1) tại Trường Tiểu học Pháp - Việt tỉnh Thừa Thiên”9. Và khoảng tháng 8/1908, “Nguyễn Tất Thành với tên gọi Nguyễn Sinh Côn có thể được nhận vào Trường Quốc học Huế, theo thư của ông Hiệu trưởng Quốc học Sukê (Chouquet) gửi ông Khâm sứ Trung Kỳ”10.
Việc sớm được gặp gỡ, lắng nghe các bậc tiền bối cha, anh bàn về con đường cứu nước, và sớm tiếp xúc với văn minh Phương Tây, chịu tác động của những phong trào yêu nước và cách mạng theo khuynh hướng dân chủ, tư sản, nên Nguyễn Ái Quốc cũng đã sớm hình thành tư duy muốn tìm một con đường cứu nước mới để giải thoát quốc gia dân tộc khỏi họa bị thực dân xâm lăng, cai trị. Trong bài trả lời phỏng vấn của nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam, ngày 23/12/1923, Người nói: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài. Chúng tôi bị cấm, không phải chỉ là bị cấm đi du lịch ra nước ngoài mà cả đi trong nước cũng không được. Đường sắt được xây dựng với mục đích "chiến lược" riêng. Theo con mắt của bọn thực dân, chúng tôi chưa đủ trình độ để sử dụng loại đường này. Tôi lang thang ra bờ biển và tôi đã vượt biển ra nước ngoài”11. Trần Dân Tiên trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch kể lại: “Sau ít hôm, anh (tức Nguyễn Ái Quốc - TG) đột nhiên hỏi tôi: “Anh Lê, anh có yêu nước không?” Tôi ngạc nhiên và đáp: “Tất nhiên là có chứ!”.
- Anh có thể giữ bí mật không? - Có.
- Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?
- Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?
- Đây, tiền đây. - Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn tay. - Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?”12.
Với quyết tâm, phải tìm hiểu, học hỏi để rồi sau sẽ giúp đồng bào, Tổ quốc, Người đã lên đường ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng. Hành trình đi tìm đường cứu nước của Người cũng chính là một hành trình tự học, tự đào tạo, tự rèn luyện. Động lực, tài sản quý giá nhất của Người trên hành trình tự học, tự đào tạo, đó chính là tinh thần yêu nước nồng nàn, là ý chí, nguyện vọng thiết tha phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Để thực hiện ý chí, nguyện vọng đó, Người đã xin xuống làm bồi bếp của tàu Amiral Latouche-Tréville (La-tu-sơ Tơ-rê-vin, còn được gọi là tàu Đô đốc Latouche-Tréville). Theo lời kể lại của ông Mai, người làm việc cùng với Bác trên tàu thì: “Việc gì tôi làm được là tôi cố để giúp anh ta, vì anh ta chưa biết làm gì cả. Vả lại, anh ấy có can đảm và nhẫn nại. Phụ bếp trên tàu, mỗi ngày anh ta phải làm: Từ bốn giờ sáng, quét dọn sạch sẽ nhà bếp lớn trên tàu, rồi đốt lửa trong các lò. Sau đó đi khuân than, rồi xuống hầm lấy rau, thịt, cá, nước đá, v.v.. Công việc khá nặng nhọc … Suốt ngày, anh Ba đẫm nước, hơi, mồ hôi, mình đầy bụi than. Người ta thấy anh Ba phải dùng hết tinh thần và sức lực để làm cho xong công việc”13. Nhưng sau tất cả những vất vả thường nhật ấy: “Mỗi ngày, chín giờ tối, công việc mới xong. Anh Ba mệt lử. Nhưng trong khi chúng tôi nghỉ hoặc đánh bài, anh Ba đọc hay viết đến mười một giờ hoặc nửa đêm”14; “Cái gì đối với anh Ba cũng mới, anh phải học tất cả. Ví dụ mới đầu anh không ăn được bánh mì và bơ. Ăn xúp thì dùng nĩa”15; “Vài ngày sau tàu rời bến, có hai hành khách - hai người lính trẻ tuổi giải ngũ trở về Pháp. Tôi không hiểu tại sao hai anh này đã trở nên bạn thân của anh Ba. Họ giúp anh nhặt rau và buổi tối họ cho anh mượn những quyển sách nhỏ, dạy cho anh đọc và viết. Và anh Ba lại dạy họ học quốc ngữ và thỉnh thoảng dấm dúi cho họ một cốc cà-phê”16.
Hay trong một mẩu chuyện khác, do ông Bốn kể lại thì: “Một lần đi trên một chiếc tàu nhỏ chở hàng, tôi có người bạn là một đồng hương trẻ tuổi, tên là Ba. Sau những giờ làm việc, anh Ba viết và đọc sách. Chính anh đã khuyên tôi tôi học chữ quốc ngữ … Đến đâu anh Ba cũng để ý xem xét”17; “Ba cũng rời chiếc tàu, nói là đi Anh. Tại sao lại đi Anh. Ba nói là để học tiếng Anh”18.
Như vậy, để phụng sự Tổ quốc, Người có thể làm bất cứ công việc nào, dù có khó khăn đến đâu Người cũng không nản chí, không từ bỏ và luôn học hỏi. Ông Nam, một nhân vật đã từng ở cùng với Bác ở Anh, kể lại: “Công việc làm từ tám giờ đến mười hai giờ và chiều từ năm giờ đến mười giờ. Hằng ngày, buổi sáng sớm và buổi chiều, anh Ba ngồi trong vườn hoa Hay-đơ (Hyde), tay cầm một quyển sách và một cái bút chì. Hằng tuần vào ngày nghỉ, anh đi học tiếng Anh với một giáo sư người Ý. Ba thường khuyên tôi nên học như Ba”19.
Sau này, thấy việc chưa thành thạo tiếng Pháp và không biết viết báo đã ảnh hưởng nhiều đến việc đấu tranh nên người đã quyết tâm tự học thêm tiếng Pháp và học cả cách viết báo. Trần Dân Tiên kể lại về việc soạn thảo bản Yêu sách của nhân dân An Nam để gửi đến Hội nghị Véc-xây của Nguyễn Ái Quốc là: “Cũng nên nhắc lại ý kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ, ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp”20; “Lúc ấy, ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả vì Tổ quốc; nhưng ông Nguyễn lúc đó rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là Công hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng”21. Sau khi tiếp xúc với Giăng Lông-ghê (Jean Longuet), cháu ngoại Các Mác, nghị viện của Quốc hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc mới có những hiểu biết ban đầu về chính trị và về đấu tranh cách mạng. Ông Lông-ghê đã nói với Nguyễn Ái Quốc rằng nên viết báo và dùng báo chí làm công cụ mà tranh đấu. Nhưng vốn tiếng Pháp của Bác chưa đủ và Bác cũng chưa biết cách viết báo thế nào. Để khắc phục hạn chế đó, Bác đã tự học, tự đào tạo tiếng Pháp và cách viết báo để có thể viết bài tranh đấu. “Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay. Ông Trường viết giỏi nhưng không muốn ký tên. Mà chính ông Nguyễn đã phải ký tên những bài báo. Nhược điểm về tri thức làm cho ông Nguyễn rất khó chịu. Nhất là ông Trường không viết tất cả những điều ông Nguyễn muốn nói. Vì vậy, ông Nguyễn bắt tay vào học làm báo. Thường lui tới tòa báo “Dân chúng”, ông làm quen với những người Pháp khác trong đó có chủ bút tờ “Đời sống thợ thuyền””22. Và vì biết rằng: “không thể nhờ ông Trường viết mãi”, với tinh thần cầu thị Bác đã nói thật với ông chủ bút rằng vốn tiếng Pháp của Người rất kém, không thể tự viết. Vị chủ bút này đã đã giúp đỡ Người bằng cách, Người tự viết và sau đó ông ấy sẽ sửa bài cho Bác. Từ đó, Bác bắt đầu học cả tiếng Pháp và học viết báo. Như Người kể thì việc đó rất khó khăn, nhưng nó không làm cho Người nhụt chí. Với tinh thần cầu thị, học để phụng sự Tổ quốc nên Người đã làm được. “Ông Nguyễn viết làm hai bản, gửi cho tòa báo một bản, giữ lại một bản. Ông hết sức vui sướng khi thấy bài viết đầu tiên của mình được đăng lên báo. Ông đọc lại bài báo đã in, so sánh và sửa những chỗ viết sai. Ông kiên nhẫn làm theo cách ấy … Dần dần ông Nguyễn có thể viết cả một cột báo và có khi dài hơn”23. Rồi sau đó, Người lại phải học cách viết ngắn gọn lại, cũng khó khăn không kém như khi học để viết đủ dài cho một cột báo.
Có thể nói, trong hành trình tìm đường cứu nước, hoạt động cách mạng và lãnh đạo cách mạng, Người cũng luôn luôn tự học, tự tìm hiểu về nhiều vấn đề, nhất là về lý luận cách mạng. Điều quan trọng là, trong hành trình tự học, tự đào tạo đó, Người không tự ti, dấu dốt, mà luôn có tinh thần cầu thị để học hỏi và được học hỏi để hoàn thiện dần tri thức của mình. Người kể lại: “Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các "ông bà" ấy - (hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôi như thế) - đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Còn như đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu. Hồi ấy, trong các chi bộ của Đảng Xã hội, người ta bàn cãi sôi nổi về vấn đề có nên ở lại trong Quốc tế thứ hai, hay là nên tổ chức một Quốc tế thứ hai rưỡi, hoặc tham gia Quốc tế thứ ba của Lênin? Tôi dự rất đều các cuộc họp một tuần hai hoặc ba lần. Tôi chăm chú nghe những người phát biểu ý kiến. Lúc đầu, tôi không hiểu được hết. Tại sao người ta bàn cãi hăng như vậy? Với Quốc tế thứ hai, hoặc thứ hai rưỡi, hay là thứ ba, thì người ta cũng đều làm được cách mạng cả, sao lại phải cãi nhau? Và còn Quốc tế thứ nhất nữa, người ta đã làm gì với nó rồi? Điều mà tôi muốn biết hơn cả - và cũng chính là điều mà người ta không thảo luận trong cuộc họp - là: Vậy thì cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa? Trong một cuộc họp, tôi đã nêu câu hỏi ấy lên, câu hỏi quan trọng nhất đối với tôi. Có mấy đồng chí đã trả lời: Đó là Quốc tế thứ ba, chứ không phải Quốc tế thứ hai. Và một đồng chí đã đưa cho tôi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo”24.
Quá trình Nguyễn Ái Quốc tìm hiểu về chủ nghĩa Mác - Lênin cũng là một quá trình tự đọc, tự học, tự nghiền ngẫm để thấu hiểu. Người kể lại việc tự đọc và tự hiểu bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa rằng: “Trong Luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!". Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”25. Tự học, tự đào tạo đã giúp Người có đủ bản lĩnh, tự tin để tranh đấu. Người nói: “Lúc đó, tôi đã nắm vững tiếng Pháp và đã có thể tiến hành tự học chính trị một cách sâu sắc và có thể hiểu rõ các vấn đề quốc tế”26; “Trước kia, trong các cuộc họp chi bộ, tôi chỉ ngồi nghe người ta nói; tôi cảm thấy người nào cũng có lý cả, tôi không phân biệt được ai đúng và ai sai. Nhưng từ đó tôi cũng xông vào những cuộc tranh luận. Tôi tham gia thảo luận sôi nổi. Mặc dù chưa biết đủ tiếng Pháp để nói hết ý nghĩ của mình, tôi vẫn đập mạnh những lời lẽ chống lại Lênin, chống lại Quốc tế thứ ba”27.
Tự học, tự đào tạo, nghiền ngẫm đã giúp người có đủ kiến thức, kinh nghiệm, trí tuệ, bản lĩnh để sáng tạo, bổ sung thêm lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, Người nói: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”28. Người khẳng định: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các xôviết đảm nhiệm (Ban Thuộc địa của chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi tham gia công tác này)”29. Người cho rằng, đã đồng tình với Lênin rằng: cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết và thúc đẩy lẫn nhau. Nhưng Người không chấp nhận quan điểm của Lênin khi cho rằng: Cách mạng giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc phải phụ thuộc vào cuộc cách mạng vô sản ở chính quốc theo kiểu của Cách mạng Tháng Mười Nga. Mà theo Người thì cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc hoàn toàn có thể giành thắng lợi trước cuộc cách mạng vô sản ở chính quốc và nó sẽ giúp cho cuộc cách mạng vô sản ở chính quốc giành được thắng lợi nhanh hơn, triệt để hơn.
Người cũng đã tự đọc, tự tìm hiểu về các cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở Anh, Pháp, Mĩ… và đưa ra những nhận xét xác đáng về bản chất của những cuộc cách mạng này. Người đã cho rằng đó đều là những cuộc cách mạng không đến nơi, vì cách mạng xong rồi mà quần chúng nhân dân vẫn bị đọa đày, đau khổ và đang âm mưu làm cuộc cách mạng mới. Do đó, Người nói nhân dân An Nam nếu làm cách mạng thì không nên đi theo con đường của những cuộc cách mạng này. Tấm gương tự học, tự đào tạo của Người còn được thể hiện trong nhiều câu chuyện nữa trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Một trong số những câu chuyện đó chính là ý thức về việc học hỏi, rèn luyện thể dục, thể thao và võ thuật của Người để có đủ sức khỏe mà cống hiến cho cách mạng, cho Tổ quốc. Đặc biệt, chúng ta thấy được tinh thần thép, ý chí ngoan cường, kiên định của Người khi bị chính quyền Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch bắt, rồi cầm tù, đọa đày Bác trong hơn 1 năm. Chẳng những Người đã kiên gan, bền chí vượt mọi thử thách, đòn roi tra tấn của lao tù, mà còn luôn lạc quan, học hỏi, tự đào tạo mình. Tập thơ Nhật ký trong tù của Người không chỉ là những tác phẩm cảm tác trong hành trình vượt qua lao tù gian khổ ấy. Mà còn có những tác phẩm khác đã được Bác viết mang tính lý luận cách mạng ở thời kỳ này như vấn đề về xây dựng quân đội, về chiến tranh du kích, về khái niệm văn hóa và 5 điểm lớn về xây dựng nền văn hóa mới.
Như vậy có thể thấy, hành trình tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng, lãnh đạo cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cũng chính là hành trình tự học, tự đào tạo, tự rèn luyện của Người. Hành trình đó chính là tấm gương ngời sáng về tinh thần tự học, tự đào tạo, tự rèn luyện của Người.
2. Một số bài học về giáo dục tự học, tự đào tạo từ tấm gương Hồ Chí Minh
Từ thực tiễn tấm gương tự học, tự đào tạo, rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục tự học, tự đào tạo có thể rút một số bài học sau đây về giáo dục tự học, tự đào tạo cho thế hệ trẻ ngày nay như sau:
Thứ nhất, muốn tự học, tự đào tạo thành công thì người học cần phải có mục tiêu, lý tưởng rõ ràng, trong sáng. Đây là bài học vô quan trọng đối với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Xuất phát từ mục tiêu, nguyện vọng tha thiết là phải học hỏi để có thể giúp đồng bào mình, phụng sự Tổ quốc mình, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã lên đường ra đi tìm đường cứu nước, bắt đầu cho một hành trình tự học, tự đào tạo và rèn luyện, hoàn thiện mình để đạt mục tiêu, mục đích. Người đã kể lại câu chuyện tự học làm báo của mình trong bài Cách viết năm 1955 để răn dạy điều này rằng: “Muốn nói gì phải chuẩn bị trước. Cách viết và cách nói đại khái như thế. Kinh nghiệm Bác viết thế nào? Sau Thế giới chiến tranh lần thứ nhất, Bác ở Pháp. Muốn tuyên truyền cho nước ta, nhưng không viết được chữ Pháp. Làm thế nào bây giờ? Nhất định phải học viết cho kỳ được. Có một đồng chí làm trong một tờ báo Sinh hoạt công nhân1) bảo: “Có tài liệu gì, anh cứ viết, rồi tôi đăng cho”. Bác nói: “Tài liệu thì có, chỉ tội tôi không viết được”. Đồng chí ấy nói: “Anh cứ viết 3 dòng, 5 dòng cũng được. Có thế nào thì viết thế ấy. Nếu có sai mẹo mực thì tôi sửa cho”. Thế là từ đấy trở đi, mình học viết báo. Viết 3, 4 dòng. Khi viết rồi, chép ra 2 miếng, 1 miếng gửi cho nhà báo, 1 miếng mình giữ lại”30. Như vậy, với ý chí, lý tưởng, học để phụng sự Tổ Quốc, phụng sự đồng bào mà Người đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để tự học, tự đào tạo mình thành một nhân tài kiệt xuất. Đây chính là bài học quan trọng nhất, quý giá nhất mà thế hệ trẻ hôm nay cần phải quán triệt, học hỏi Người một cách nghiêm túc.
Thứ hai, tự học luôn gắn liền với tự đào tạo, tự rèn luyện, phải quyết chí, phải bền gan. Có thể thấy, cuộc đời học động cách mạng và cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một hành trình tự học mà luôn luôn được gắn liền với tự đào tạo, từ rèn luyện. Bản thân Người cũng thực hiện điều này một cách xuất sắc và nghiêm túc thể hiện qua nhiều sự kiện, nhiều câu chuyện, từ việc kiên trì sửa con diều để nó có thể bay lên được, cho đến tấm gương vượt mọi khó khăn, thử thách để tự học, tự đào tạo ngoại ngữ, học làm báo, tự tìm hiểu, đặc biệt là tự học hỏi, tự đào tạo, trau dồi về lý luận cách mạng và phương pháp cách mạng... Sau này, Người cũng nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn luôn có tinh thần tự học, tự đào tạo và Đảng, chính quyền phải tạo điều kiện, giúp đỡ để cán bộ tự học, tự đào tạo. Trong Bài nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu ngày 18/1/1949, Người nói: “Ta thiếu nhiều cán bộ quá: Phải đào tạo huấn luyện cho dần dần có đủ. Muốn có nhiều cán bộ, Đảng phải giúp đỡ cho cán bộ tự học tập. Đảng đã giúp, cán bộ phải chịu khó học. Đồng chí ta nhiều người kinh nghiệm thực hành khá, nhưng về văn hoá thì i tờ. Những đồng chí trí thức đọc nhiều nhưng không có kinh nghiệm công tác, chưa quen nền nếp làm việc của Đảng”31. Hay trong bài nói chuyện tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập, Người nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”32; “Học tập ở trường của Đoàn thể không phải như học ở các trường lối cũ, không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”33.
Thứ ba là, muốn tự học, tự đào tạo, tự rèn luyện đạt kết quả phải có tinh thần cầu thị, nỗ lực vượt qua khó khăn, tự ti, không dấu dốt, chân thành học hỏi. Điều này thể hiện ở nhiều câu chuyện về cuộc đời tự học, tự đào tạo mà tôi đã dẫn trong phần đầu của tham luận này. Trên hành trình tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn thể hiện tinh thần này. Người ra đi tìm đường cứu nước với hai bàn tay trắng và sẵn sàng làm bất cứ việc gì có thể để có thể đi và học. Người sẵn sàng nói ra những khó khăn, hạn chế của mình và thể hiện rất rõ tinh thần cầu thị muốn được học hỏi để có thể được chỉ dạy và học được nhiều nhất từ bạn bè, đồng chí của mình. Câu chuyện Người học làm báo, rồi cầu chuyện về việc Người học tập lý luận cách mạng là một ví dụ sâu sắc nhất về tinh thần cầu thị, không tự ti, dấu dốt.
Thứ tư là, muốn tự học, tự đào tạo cũng cần phải có sự giúp đỡ từ gia đình, bạn bè, đoàn thể, tổ chức. Chúng ta thấy, trước khi ra đi tìm đường cứu nước, trong hành trình tìm đường cứu nước cũng như là trong cả quá trình hoạt động cách mạng về sau, Nguyễn Ái Quốc đã luôn nhận được sự giúp đỡ, động viên, chỉ dạy từ gia đình, bạn bè, đoàn thể và tổ chức. Người đã nhận được sự động viên và ngầm tạo điều kiện của cha mình, bằng việc cho ông có điều kiện tiếp xúc với những thân sĩ yêu nước, nghe họ đàm đạo về con đường cứu nước mà tự học, tự cảm nhận và đánh giá. Sau này, trên hành trình tìm đường cứu nước, Người cũng luôn nhận được sự trợ giúp, tạo điều kiện của bạn bè và các đoàn thể, tổ chức, từ những người bạn cùng làm trên tàu Latouche-Tréville, đến những đồng chí của Người trong Đảng Xã hội Pháp, rồi sau này là Đảng Cộng sản Pháp, Quốc tế Cộng sản, Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đồng Minh,… Như thế, rõ ràng là, muốn tự học, tự đào tạo, tự rèn luyện không chỉ cần có ý chí, nỗ lực của cá nhân mà cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ gia đình, bạn bè, đoàn thể, tổ chức. Cho nên, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều bài nói, bài viết cũng đã nhân mạnh điều này.
Thứ năm là, phải chủ động và có tinh thần, bản lĩnh sáng tạo trong quá trình tự học, tự đào tạo, tự rèn luyện. Đây cũng là một bài học quý giá mà Chủ tich Hồ Chí Minh đã để lại đối với chúng ta hôm nay và mai sau. Cả cuộc đời của Người là một tấm gương sáng về tinh thần chủ động, sáng tạo trong quá trình tự học, tự đào tạo, tự rèn luyện để phụng sự Tổ quốc. Người đã tự chủ động quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, khởi đầu cho một hành trình tự học, tự đào tạo, rèn luyện khắc nghiệt để thành công và giải phóng được quốc gia dân tộc. Người không chỉ học hỏi một cách thụ động, giáo điều, mà luôn có sự chắt lọc và sáng tạo trong quá trình học hỏi. Điều này thể hiện rất trong quan điểm, tư tưởng của Người khi học hỏi, tiếp thu lý luận cách mạng vô sản, rồi sau này là trong quá trình kiến tạo về chế độ, mô hình xây dựng chế độ xã hội dân chủ nhân dân ở Việt Nam sau khi cách mạng giải phóng dân tộc đã thành công.
Thứ sáu là tự học, tự đào tạo về cả tài lẫn đức. Trong nhiều bài nói, bài viết Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rất rõ điều này rằng: “Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước”34; “Nói tóm lại, chính trị là đức, chuyên môn là tài. Có tài mà không có đức là hỏng. Có đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào? Đức phải có trước tài”35; “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”36. Và bản thân Người cũng là một tấm gương phải tự học, tự đào tạo, rèn luyện cả tài và đức. Điều này thể hiện ở thái độ cầu thị, không tự ti, dấu dốt, chân thành học hỏi của Người mà chúng tôi đã trình bày trong những phần trên.
Còn có nhiều bài học khác nữa về tấm gương tự học, tự đào tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, song theo tôi thì 5 bài học trên đây là quan trọng nhất cần được quán triệt trong giáo dục tinh thần tự học, tự đào tạo cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau, ở cả gia đình, nhà trường, tổ chức và xã hội. Bởi tự học, tự đào tạo, tự rèn luyện không chỉ là phương pháp học tập, đào tạo mà những yếu tố, phẩm chất quan trọng thế hệ trẻ cần có, phải có trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của quốc gia dân tộc.
KẾT LUẬN
Từ những gì đã trình bày trên đây có thể thấy, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng, mẫu mực về tinh thần, ý chí tự học, từ đào tạo, tự rèn luyện để trưởng thành. Từ thực tiễn của bản thân, Người nhiều lần nhắc nhở, quán triệt cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phải luôn có tinh thần chủ động tự học, tự đào tạo và rèn luyện. Mỗi người đều phải không ngừng nỗ lực tự học để vươn lên hoàn thiện mình mà hoàn thành các nhiệm vụ được giao, phụng sự cách mạng, phụng sự Tổ quốc. Đảng và chính quyền các cấp phải tạo điều kiện để hỗ trợ cán bộ, đảng viên và quần chúng tự học tập, tự đào tạo. Tấm gương của Người dạy chúng ta rằng, trong mỗi bước trưởng thành, con người ta phải luôn luôn có ý chí, có tinh thần tự học, tự đào tạo và rèn luyện để hoàn thiện bản thân mình. Và quan trọng hơn, tự học, tự đào tạo, rèn luyện phải có mục đích, lý tưởng cụ thể, trong sáng, cao đẹp. Tự học, tự đào tạo, rèn luyện hoàn thiện mình để cống hiến, phụng sự Tổ quốc và nhân dân chính là lý tưởng, là mục đích cao đẹp nhất, là nguồn động lực to lớn để mỗi người tự học, tự đào tạo và tự học, tự đào tạo thành công, trở thành người có ích, người tài đức. Và muốn tự học, tự đào tạo đạt hiệu quả, kết quả tốt phải có tinh thần chủ động, sáng tạo, không tự ti, dấu dốt, phải thực sự cầu thị, và đồng thời phải kết hợp được cả giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội thì mới có thể tự học, tự đào tạo, rèn luyện có kết quả, hiệu quả. Những bài học, những lời răn dạy của Người vẫn còn nguyên giá trị đối với chúng ta ngày hôm nay và mai sau, nhất là về mục tiêu xây dựng một xã hội học tập, xây dựng một thế hệ trẻ có tinh thần chủ động, cầu thị, sáng tạo, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng và phụng sự Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình./.
[1], 5 Phạm Hồng Tung (Chủ biên, 2005), Khảo lược về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 162, 136-137
2, 3, 4, 6, 7, 8, 9, 10 Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, H. 2016, tập 1, tr. 1-8, 11- 12, 10, 30, 17, 19, 20, 21
11, 28, 29 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H.2011, tập 1, tr. 461, 209- 210, 210
12, [1]3, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23 Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, H.1986, tr. 14, 15-16, 16, 17, 17, 22- 23, 24, 27, 30, 32, 32-33, 33
24, 25, 27, 35 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 12, tr. 561-562, 562, 562, 269
26 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 11, tr. 11.
30 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 8, tr. 210-211.
31, 32, 33 Hồ Chí Minh: Sđd, tập 6, tr. 16, 360, 360
34 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 345-346.
36 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 14, tr. 400.