PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRUNG
Học viện Chính trị Khu vực I
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tinh thần vững chắc của cách mạng Việt Nam, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta trong suốt quá trình đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị định hướng cho sự nghiệp Đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng của Việt Nam. Bài viết phân tích các giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp Đổi mới đất nước hiện nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về con đường cách mạng Việt Nam, là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu và thách thức phức tạp của thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng tiếp tục khẳng định cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn giúp Đảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời phát triển sáng tạo để phù hợp với điều kiện mới. Điều đó cho thấy giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn mang tính thời sự sâu sắc, giữ vai trò định hướng chiến lược cho sự nghiệp Đổi mới và phát triển đất nước hiện nay.
Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp Đổi mới được thể hiện ở những nội dung có bản sau:
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh hun đúc bản lĩnh và khát vọng Đổi mới của Đảng.
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tư duy độc lập, sáng tạo, dám đổi mới để giải phóng dân tộc. Ngay từ khi tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã xác định con đường cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – một lựa chọn thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tư duy đổi mới và tầm nhìn vượt thời đại. Hồ Chí Minh đã giúp dân tộc Việt Nam tìm ra con đường đi phù hợp, thành lập cho cách mạng Việt Nam một tổ chức lãnh đạo tiên phong, xây dựng cho cách mạng Việt Nam một lực lượng đông đảo, giúp cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển, giúp dân tộc Việt Nam từng bước thực hiện được khát vọng Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
Tinh thần Đổi mới ấy được Đảng ta kế thừa và phát huy mạnh mẽ trong sự nghiệp Đổi mới từ năm 1986 đến nay. Quan điểm “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật” mà Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đưa ra chính là sự kế thừa tinh thần Đổi mới ở Hồ Chí Minh và đã trở thành kim chỉ nam cho công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước. Nhờ kiên định và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc Đổi mới thành công, từng bước đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, Đảng tiếp tục khẳng định bài học cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh: Đổi mới phải gắn liền với kiên định mục tiêu lý tưởng, đổi mới để phát triển nhưng không xa rời nền tảng tư tưởng. Đảng phải luôn “đổi mới sáng tạo trong lãnh đạo, quản lý, điều hành; đổi mới phương thức cầm quyền” nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trong bối cảnh mới.
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh chứa đựng một hệ thống luận điểm có vai trò nền tảng, định hướng cho sự nghiệp đổi mới của Đảng. Điều đó được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
Đổi mới là bản chất của cách mạng, đổi mới để phát triển. Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”1. Nói về công cuộc kiến thiết đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước thắng lợi, Người nhấn mạnh: “Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”2.
Đổi mới phải hướng tới phục vụ nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Xuyên suốt trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là ích nước, lợi dân. Người luôn căn dặn: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”3; “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”4.
Đổi mới phải xuất phát yêu cầu của thực tiễn,và giải quyết các yêu cầu ấy bằng những cách thức phù hợp nhất. Theo Người, thực tiễn là xuất phát điểm của tư duy, hành động; là sự kiểm chứng chân lý khoa học. Người căn dặn: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính”. Chính vì thế mà tìm tòi, sáng tạo cái mới, phải luôn gắn với thực tiễn, chú trọng tổng kết thực tiễn, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo tính đúng đắn của đổi mới.
Đổi mới là sự nghiệp lâu dài, phức tạp, gian khổ, phải kiên định, kiên quyết, kiên trì, lựa chọn những bước đi thích hợp. Muốn thay đổi xã hội phải thay đổi bản thân mình. Muốn cải tạo xã hội phải cải tạo bản thân mình trước. Đấu tranh với chính mình để chiến thắng thói hư tật xấu, chiến thắng dốt nát, lạc hậu là công việc cam go. Do vậy, thực hiện sự nghiệp đổi mới là công việc không dễ dàng, không phải là công việc có thể hoàn thành trong một sớm, một chiều. Để thực hiện đổi mới, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải có quyết tâm, phải kiên trì, bền bỉ, phải xây dựng kế hoạch tỷ mỷ và có biện pháp thực hiện kế hoạch thiết thực.
Đổi mới không phải là phủ định sạch trơn, mà là sự kế thừa và phát triển. Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Đổi mới không phải là cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ… cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý… cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm… cái gì mới mà hay thì phải làm”5.
Nhân dân là nguồn sức mạnh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Mọi lực lượng đều ở nơi dân. Vì vậy, “để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”6; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại theo tinh thần cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, Việt Nam sẵn sàng là bạn của các nước dân chủ.
Để lãnh đạo sự nghiệp đổi mới Đảng cần có tư tưởng cách mạng, khoa học. Đó là tư tưởng được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kết hợp với tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại, phản ánh đúng và giải quyết hiệu quả yêu cầu khách quan của thực tiễn đất nước; cần có tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của dân tộc, Tổ quốc lên trên hết, trước hết, đổi mới vì một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh; cần có phong cách kiên định, sáng tạo, dân chủ, thực tiễn, hiệu quả, nói đi đôi với làm, làm thiết thực, mang lại kết quả thực tế cho nhân dân, cho đất nước.
Vì tư tưởng Hồ Chí Minh có những giá trị mang tính định hướng cho công cuộc Đổi mới như vậy nên cùng với chủ nghĩa Mác - lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng trong sự nghiệp đổi mới.
Trong Văn kiện Đại hội VI (12/1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới Đảng ta khẳng định: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh7. Tại Đại hội VII (6/1991), Đảng nhấn mạnh việc phải “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”8; Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”9. Bước phát triển trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng này đã cho thấy cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, sự khẳng định này cũng bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những những luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tiếp nối tinh thần của Nghị quyết các kỳ Đại hội trước, Nghị quyết Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng một lần nữa khẳng định yêu cầu phải “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” – coi đây là nguyên tắc nền tảng, bảo đảm cho định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ ba, Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị định hướng các nội dung Đổi mới cơ bản của Đảng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Theo Hồ Chí Minh, kinh tế là nền tảng của xã hội, là điều kiện vật chất quyết định sự tồn tại và phát triển của đất nước. Người luôn coi “dân giàu, nước mạnh, mọi người được ấm no, hạnh phúc” là mục tiêu tối thượng của chế độ xã hội mới. Với quan điểm ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới. Đổi mới kinh tế không chỉ là thay đổi cơ chế quản lý, mà là đổi mới tư duy phát triển.
Từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta đã khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ nhưng giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này cho thấy giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên tính thời sự, khi Người luôn nhấn mạnh phải phát triển kinh tế vì con người, vì hạnh phúc của nhân dân, đồng thời coi công bằng xã hội là tiêu chí phản ánh bản chất ưu việt của chế độ.
Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đảng là linh hồn của đổi mới; cán bộ, đảng viên phải đi tiên phong trong sự nghiệp đổi mới. Đổi mới là sự nghiệp vẻ vang nhưng hết sức khó khăn. Là tổ chức lãnh đạo, Đảng cần phái có niềm tin, có quyết tâm đổi mới. Cán bộ, đảng viên phải không ngừng học hỏi, tu dưỡng để xứng đáng là người dẫn đường trong sự nghiệp đổi mới. Hồ Chí Mình thường căn dặn cán bộ, đảng viên: “Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Một trong những đóng góp lớn nhất của Hồ Chí Minh là tư tưởng về xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân. Người coi Đảng là “đạo đức, là văn minh”, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Vì vậy, đổi mới đất nước trước hết phải bắt đầu từ việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được triển khai sâu rộng trên toàn quốc, trở thành phong trào chính trị có sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện là nhiệm vụ then chốt; đổi mới phương thức lãnh đạo, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm nêu gương.
Về đối ngoại, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững. Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức mạnh của đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Người chủ trương Việt Nam “là bạn với tất cả các nước dân chủ”, tôn trọng độc lập, chủ quyền và bình đẳng giữa các dân tộc. Tư tưởng đối ngoại ấy trở thành nền tảng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển của Đảng ta ngày nay. Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp Đảng ta xác lập đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện. Đường lối này đã góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, tạo môi trường hòa bình, thuận lợi cho phát triển.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định phương châm đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả”.
Thứ tư, ý nghĩa của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến đổi khí hậu và các vấn đề phi truyền thống gia tăng, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở nên cấp thiết. Ý nghĩa đầu tiên là củng cố bản lĩnh chính trị, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong mọi chủ trương, chính sách. Ý nghĩa thứ hai là thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát huy trí tuệ và sức mạnh của nhân dân để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Ý nghĩa thứ ba là góp phần xây dựng văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới – nơi giá trị đạo đức, nhân văn, đoàn kết và trách nhiệm xã hội được coi là nền tảng của phát triển. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới là yêu cầu tất yếu để “phát huy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; xây dựng Việt Nam hùng cường, văn minh, hiện đại”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam, là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng và sự nghiệp đổi mới đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, việc kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Qua 40 mươi năm đổi mới, thực tiễn đã chứng minh giá trị bền vững và sức sống mạnh mẽ của tư tưởng Hồ Chí Minh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là nền tảng để Đảng ta giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường hiện đại, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, mở rộng đối ngoại, hội nhập quốc tế sâu rộng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu, học tập, vận dụng và lan tỏa tư tưởng Hồ Chí Minh là con đường thiết thực nhất để củng cố niềm tin, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, việc đẩy mạnh học tâp và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để hiểu rõ bản chất khoa học và vận dụng sáng tạo giá trị tư tưởng của Người vào thực tiễn sao cho hiệu quả nhất là điều hết sức thiết thực và quan trọng, góp phần tạo thế và lực để bước vào kỷ nguyên mới- kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 2, tr. 284
2, 6 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr. 617, 617
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 378
4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr. 65
5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 112-113.
7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1987, tr.125
8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1991, tr.127
9 Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự Thật, Hà Nội 1991, tr.21